Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về rừng trồng quy mô HGĐ 1. Loài cây, kỹ thuật và quản lý rừng trồng Tếch là loài cây được trồng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là trồng bởi HGĐ.
Khi nghiên cứu kỹ thuật tỉa thưa để áp dụng cho Lào, (Pachas và cộng sự, 2019) đã tổng kết ở các nước trên thế giới cho thấy Tếch được tỉa thưa nhiều nhất là 8 lần trong 1 chu kỳ kinh doanh (ở Ấn Độ) và thấp nhất là 2 lần (Tại Thái Lan). Mật độ cây để lại sau lần tỉa thưa đầu tiên cũng khác nhau và dao động từ 550 cây/ha (Trinidad and Tobago) đến 1. Đa số các mô hình sẽ tỉa thưa khoảng 5 lần với mật độ để lại từ 30 đến 250 cây/ha. Tuổi rừng khai thác cũng dao động khá lớn, từ 20 năm (tỉa thưa 2 lần ở Trinidad and Tobago) đến 74 năm ở Ấn Độ.
Mô hình tỉa thưa 8 lần ở Ấn Độ có chu kỳ kinh doanh là 50 năm. Gỗ các loài cây này cung cấp nguyên liệu để sản xuất panel, nội thất và các sản phẩm khác. Hầu hết các diện tích này tập trung ở vùng Java nơi có ngành công nghiệp veneer và nội thất phát triển dựa trên nguyên liệu gỗ rừng trồng. Ở Lào, (Midgley và cộng sự, 2016) thì loài cây trồng rừng chính ở Lào là Tếch.
Chỉ tính riêng phía Bắc Lào, các HGĐ đã xây dựng 15.000 khu rừng Tếch trên 15.000 ha đất rừng. Chính diện tích rừng này đã cung cấp nguyên liệu đầu vào và là nền tảng cho ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Lào với 10.000 m3 gỗ tròn và gỗ xẻ xuất khẩu sang Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam với giá trị xuất khẩu 6 triệu USD. Ở Thái Lan, loài cây trồng rừng chính là Bạch đàn và phần lớn được trồng bởi HGĐ với diện tích khoảng 1,5 triệu ha. Theo ước tính của (Boulay và cộng sự, 2012) 4 m thì phần lớn diện tích rừng trồng quản lý bởi HGĐ và phần lớn việc trồng và sở hữu rừng này là không chính thức và không được thống kê trong các số liệu thống kê chính thức của nhà nước.
Ở Thái Lan có phương thức trồng rừng rất đặc biệt. Theo (Tanmani, 2016) thì để đối phó với việc cạnh tranh rất lớn từ cây công nghiệp và để đảm bảo giá bán gỗ ổn định, công ty SCG đã thúc để các HGĐ trồng 44.000 ha rừng năm 2015-2016, trong đó 30.000 ha được trồng dọc theo bờ ruộng lúa và kênh mương. Tương tự, công ty giấy Double A đã xây dựng hẳn một chương trình trồng rừng dọc theo bờ ruộng lúa và hỗ trợ cho 1,5 triệu HGĐ để trồng cây Bạch đàn theo mô hình này. Ngành công nghiệp giấy ở Thái Lan phụ thuộc rất lớn vào nguyên liệu từ rừng trồng của HGĐ.
Bạch đàn là loài cây trồng rừng quan trọng ở Paraguay (Grossman, 2012) đã đánh giá các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng trồng Bạch đàn và cho thấy cự ly trồng rừng 2,5x3m là phù hợp cho sản xuất gỗ xẻ nhưng có thể tăng mật độ trồng rừng lên cho mục tiêu sản xuất cột chống và gỗ củi. Đa số nguồn giống được mua trong khi chỉ có 22% số hộ tự sản xuất giống để trồng. Mặc dù cán bộ khuyến nông đã có những hướng dẫn cụ thể về chuẩn bị thực bì, phát cỏ dại, tỉa cành nhưng việc áp dụng thực tế của các HGĐ còn rất hạn chế, dẫn đến năng suất rừng chưa cao như mong đợi. Chu kỳ kinh doanh phù hợp cho trồng rừng gỗ lớn Bạch đàn ở đây là 9 năm.
Về quản lý rừng trồng, (Midgley và cộng sự, 2012) thì các HGĐ quản lý rừng của họ theo kế hoạch riêng và hiếm khi được đặc trưng bởi kỹ thuật lâm sinh và tính kỷ luật, kế hoạch. Đầu vào cho sản xuất được thực hiện khi điều kiện cho phép về thời gian và nguồn lực tài nguyên, việc trồng cũng như quản lý rừng bị ảnh hưởng bởi giá gỗ thị trường cao hay thấp. Việc khai thác của các HGĐ cũng rất linh hoạt và không thể dự báo trước, đặc biệt là đối với các HGĐ trồng rừng nhỏ lẻ với diện tích 0,1-5 ha. Rừng trồng thường được khai thác khi gia đình cần tiền mặt cho việc hiếu, hỉ, bệnh tật, giáo dục hoặc các chi phí cần thiết khác.
Nhân tố khác quyết định đến thời điểm bán rừng của HGĐ chính là giá gỗ trên thị trường. Sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế rừng Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng không phải mô hình trồng rừng HGĐ ở đâu cũng thành công và có sự khác biệt giữa các quốc gia, các khu vực (Do an Muilia, 2018). Trong thực tế, thất bại hoặc hiệu suất thấp là phổ biến (Kroger, 2012). Ở Lào (Barney, 2008) và Indonesia (Obidzinski và Dermawan 2010, Perdana et al.
2012), HGĐ phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc trồng và trồng xen cây gỗ vào hệ thống sử dụng đất của họ liên quan đến đặc điểm sinh lý và điều kiện khí hậu, quyền sử dụng đất, chất lượng giống, nguồn tín dụng hỗ trợ để đầu tư dài hạn và khả năng tiếp cận thị trường (Nawir et al. 2007, Harwood và Nambiar, 2014). Vấn đề trồng rừng cũng được coi là phù hợp với các khoản hỗ trợ từ Chính phủ (Bryon, 2001). (Maryudi và cộng sự, 2016) chỉ ra rằng cũng giống như ở Việt Nam, người nghèo ở Indonesia cũng ít có cơ hội thu được lợi ích từ rừng trồng.
Để họ có được lợi nhận, tác giả khuyến nghị cần có các chính sách hỗ trợ tín dụng cho hộ nghèo. Khi nghiên cứu về rừng trồng quy mô HGĐ ở Indonesia (Rohadi et al, 2015) chỉ ra rằng mặc dù không phải là nguồn thu nhập chính, nhưng thu nhập từ rừng trồng đóng góp khoảng 15% thu nhập của HGĐ. Chuỗi cung nguyên liệu và sử dụng gỗ rừng trồng HGĐ (Midgley và cộng sự, 2016) thì HGĐ và các chủ rừng nhỏ đóng góp vai trò đặc biệt quan trọng đối với lâm nghiệp ở các nước châu Á. Gỗ rừng trồng từ HGĐ đã cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ, xây dựng, veneer và MDF, gỗ xuất khẩu, viên nén và bột giấy.
Ngoài ra nguồn nguyên liệu gỗ từ HGĐ còn được sử dụng phần lớn cho nguyên liệu công nghiệp chế biến trong nước, sản xuất than và xây dựng nông thôn ở Châu Á. (Rohadi và cộng sự, 2015) chỉ ra rằng đa số các HGĐ trồng rừng ở Indonesia không tuân theo các định hướng thị trường, vì vậy họ thường mất cơ hội để nâng cao thu nhập từ việc bán gỗ. Giá bán gỗ thay đổi rất lớn giữa thị trường cấp thôn và cấp huyện nhưng thường HGĐ chỉ bán được giá thấp nhất với nhiều lý do như: gỗ của 6 m HGĐ có chất lượng thấp; HGĐ yếu kém trong việc mặc cả bán gỗ và chi phí giao dịch cao do ảnh hưởng từ các quy định thị trường gỗ. Nghiên cứu về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng 1.
Nghiên cứu QLRBV và CCR nói chung Vấn đề QLRBV lần đầu tiên được ghi nhận ở cấp độ quốc tế tại Hội nghị thượng đỉnh Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro, Brazil năm 1992, theo đó việc cần thiết phải duy trì, gìn giữ nguồn tài nguyên cho thế hệ sau được quan tâm và ghi nhận. Kể từ sau hội nghị này, đã có nhiều định nghĩa về QLRBV được được cộng đồng quốc tế công nhận và các định nghĩa này đều xoay quanh 3 vấn đề chính là bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội. Để đánh giá và xác nhận “quản lý rừng bền vững”, bộ công cụ đánh giá bao gồm các Tiêu chí (Criteria) và các Chỉ số (Indicators) được sử dụng. Bộ tiêu chí và chỉ số QLRBV hiện đang được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Kể từ sau Hội nghị thượng đỉnh tại Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992, đã có nhiều hệ thống tiêu chí và chỉ số (C&I) được xây dựng. Hiện nay trên thế giới có 10 sáng kiến về bộ tiêu chí và chỉ số QLRBV ở cả cấp độ khu vực và quốc tế với sự tham gia của khoảng 150 quốc gia. Nổi bật nhất là bộ C&I của các tổ chức: Tổ chức Gỗ Nhiệt đới Quốc tế (ITTO), Tiến trình Hensinki, Tiến trình Montreal,…Mặc dù các bộ tiêu chuẩn, tiêu chí có cách trình bày và sắp xếp khác nhau song đều tập trung vào 7 vấn đề chính của QLRBV đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận là: (1) Sự phát triển của tài nguyên rừng; (2) Đa dạng sinh học; (3) Sức khỏe và sức sống của rừng; (4) Chức năng sản xuất và tài nguyên rừng; (5) Chức năng bảo vệ của tài nguyên rừng; (6) Chức năng kinh tế - xã hội; (7) Khuôn khổ pháp lý, chính sách và thể chế. Để chứng nhận một khu rừng đã được quản lý bền vững theo các tiêu chí và chỉ số nhất định, người ta sử dụng chứng chỉ QLRBV gọi tắt là chứng chỉ rừng (CCR).
Chứng chỉ rừng có 2 mục tiêu chính là: i) thúc đẩy QLRBV, và ii) đảm bảo việc tiếp cận thị trường cho các sản phẩm được chứng nhận. Để được cấp CCR, quá trình quản lý rừng 7 m phải thỏa mãn các yêu cầu của QLRBV. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 50 tiêu chuẩn QLRBV khác nhau, phản ánh sự đa dạng về loại rừng, kiểu hệ sinh thái và vấn đề sở hữu rừng trên thế giới. Mặc dù các tiêu chuẩn khác nhau song phần lớn các tiêu chuẩn QLRBV đều dựa trên các nguyên tắc (principles) và các tiêu chí (criteria).
Hiện nay trên thế giới có nhiều hệ thống CCR khác nhau, song phổ biến và được thừa nhận rộng rãi nhất là hệ thống FSC và PEFC với tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ trên toàn thế giới tính đến năm 2014 là khoảng 443 triệu ha rừng, tương đương với 10% tổng diện tích rừng thế giới. Hội đồng quản trị rừng Thế giới (Forest Stewardship Council, gọi tắt là FSC) được thành lập năm 1993 là sáng kiến của các nhóm môi trường, lâm nghiệp và các công ty gỗ. Tính đến hết năm 2014 đã cấp chứng chỉ cho 200.995 ha rừng cho hơn 80 quốc gia, trong đó 45% thuộc về các nước Châu Âu, 39% cho rừng ở các nước Bắc Mỹ và chỉ có 5% diện tích được cấp chứng chỉ thuộc về các nước Châu Á (FSC, 2019). Để đảm bảo tính độc lập khách quan, FSC không tổ chức đánh giá cấp chứng chỉ FSC mà ủy quyền cho bên thứ 3 đánh giá.
Để được FSC cấp phép thì các tổ chức đánh giá phải thỏa mãn các yêu cầu, tiêu chuẩn mà FSC đặt ra.