MỞ ĐẦU Cây đậu tƣơng (Glycine max L.) là loại cây trồng ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao. Hạt đậu tƣơng đƣợc dùng làm nguồn thực ăn giàu đạm cho con ngƣời và là nguồn nguyên liệu quan trọng cho nhiều ngành công nghiệp chế biến [2]. Ngoài ra, đậu tƣơng rất dễ canh tác, có khả năng thích nghi với nhiều vùng sinh thái, khí hậu khác nhau vì vậy đậu tƣơng đƣợc trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Biến đổi khí hậu toàn cầu ảnh hƣởng xấu đến tình hình sản xuất đậu tƣơng không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả các quốc gia sản xuất đậu tƣơng hàng đầu thế giới.
Việc nghiên cứu tạo giống đậu tƣơng có khả năng thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, trong đó có chọn tạo giống đậu tƣơng bằng công nghệ gen là hƣớng nghiên cứu rất đƣợc quan tâm và đã đạt đƣợc nhiều thành tựu. Từ trƣờng trái đất (5.10-6 Tesla) do hoạt động tự quay của Trái Đất sinh ra và có ảnh hƣởng đến đời sống của mọi sinh vật. Khoa học phát triển đã nghiên cứu và ứng dụng từ trƣờng nhân tạo phục vụ đời sống con ngƣời. Từ trƣờng đƣợc sớm ứng dụng trong y học và phát triển nhanh chóng trên các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, dƣợc học.
để chăm sóc sức khỏe cho con ngƣời [68]. Sử dụng cốc từ có tác dụng từ hóa nƣớc, đẩy mạnh quá trình trao đổi chất, đào thải độc tố trong cơ thể ngƣời uống tốt hơn. Từ trƣờng còn có tác dụng ngăn chặn quá trình loãng xƣơng hay gãy xƣơng chậm liền do sự hình thành cấu trúc xƣơng chịu ảnh hƣởng của lực từ [16]. Ngoài ra, từ trƣờng còn có nhiều ứng dụng khác, nhƣ làm giảm đau cho ngƣời bệnh bằng việc tác động vào các dây thần kinh, hạ huyết áp, ăn không tiêu.
Trong nông nghiệp, từ trƣờng nhân tạo đã đƣợc ứng dụng trong việc tạo nguồn nƣớc sạch bằng từ hoá nƣớc dùng trong chăn nuôi, thuỷ sản, hoạt hoá dinh dƣỡng tƣới bón cho cây trồng, kích thích sinh trƣởng cây trồng trong nuôi cấy mô. Các nghiên cứu gần đây nhất tiến hành tại Viện Di truyền Nông nghiệp đã phát hiện tác dụng của từ trƣờng có thể tăng hiệu quả nuôi cấy bao phấn ngô lên 3 lần [5]. Trên nguyên lý tác động tích cực của từ trƣờng lên cơ thể sinh vật, nhiều tác giả đã ứng dụng từ trƣờng nhân tạo nhằm kích thích tăng trƣởng cây trồng trong nuôi cấy mô các cây nhƣ chuối, hồng, khoai tây, thuốc lá, lúa mỳ, đậu đỗ, ngô …[14], [15], [20]. Hay xử lý hạt giống bằng từ trƣờng để tăng sức nảy mầm, xử lý từ nhằm tăng hoạt tính của Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 1 nƣớc trƣớc khi tƣới đã tăng cƣờng sinh trƣởng của cây trồng.
Hầu hết các kết quả nghiên cứu cho thấy từ trƣờng đã làm tăng tốc độ sinh trƣởng của cây lên rõ rệt nhƣ tăng chiều cao thân, chiều dài rễ, tăng tỉ lệ tạo chồi, cụm chồi phát sinh, số rễ tạo thành ở Paulownia [15], [106]; Phalaenosis [97] , [98] ; Prunus martima [104], Cybidium và Spathiphyllum [99] , [100] và tăng hàm lƣợng diệp lục trong lá. Từ trƣờng nhân tạo tác động kích thích hoặc kìm hãm sinh trƣởng của thực vật, thực chất là ảnh hƣởng đến quả trình trao đổi chất ở tế bào mà bản chất là tác động lên điện tích trong tế bào sinh vật. Từ trƣờng có tác dụng tốt tới sức khỏe, làm tăng hiệu quả quá trình nuôi cấy mô thông qua quá trình phân chia của tế bào thực vật. Từ trƣờng cũng có ảnh hƣởng tích cực tới sự sinh trƣởng của vi khuẩn từ đó từ trƣờng có thể ảnh hƣởng tích cực tới quá trình biến nạp gen và tần số biến nạp gen của vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens vào mô thực vật.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây nghiên cứu chuyển gen ở đậu tƣơng đã đƣợc tiếp cận triển khai ở một số phòng thí nghiệm, bƣớc đầu cho kết quả [7], [8]. Tuy nhiên, hiệu quả chuyển gen thu đƣợc vẫn thấp, do vậy việc cải tiến các nhân tố nhằm tăng hiệu quả của quá trình biến nạp gen là cần thiết để đạt đƣợc tỉ lệ gen chuyển thành công cao vào cây đậu tƣơng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và các nghiên cứu đã tiến hành, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của từ trường tới hiệu quả chuyển gen vào đậu tương thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens”. Mục tiêu đề tài - Xây dựng đƣợc hệ thống từ trƣờng nhằm nâng cao hiệu quả chuyển gen vào đậu tƣơng thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens.
Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hƣởng của từ trƣờng đều và từ trƣờng không đều lên quá trình sinh trƣởng và phát triển của vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens lên quá trình sinh trƣởng và phát triển của vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 2 Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hƣởng của từ trƣờng đều và từ trƣờng không đều lên khả năng tái sinh của đậu tƣơng Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hƣởng của hệ thống từ trƣờng đều và từ trƣờng không đều tới hiệu quả chuyển gen vào đậu tƣơng thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens Nội dung 4: Phân tích các cây chuyển gen bằng kỹ thuật PCR Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 3 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về đậu tƣơng 1. Nguồn gốc và phân loại Đậu tƣơng đƣợc biết đến là “Ông hoàng của những cây họ đậu” với hơn 40% protein và 20% dầu.
Các bằng chứng về lịch sử, địa lý, khảo cổ học chỉ ra rằng đậu tƣơng có nguồn gốc từ Trung Quốc vào khoảng thế kỉ XVII trƣớc công nguyên. Cây đậu tƣơng đƣợc truyền bá sang Nhật Bản vào khoảng thế kỉ thứ VIII, du nhập vào nhiều nƣớc Châu Á khác nhƣ: Indonesia, Philippin, Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam,… vài thế kỷ sau đó. Cây đậu tƣơng đƣợc trồng ở Châu Âu vào thế kỷ XVII và ở Hoa Kỳ thế kỷ XVIII. Đậu tƣơng là nguồn dầu thực vật và protein lớn nhất trên thế giới với quy mô canh tác lớn và tập trung ở vài quốc gia nhƣ Mỹ, Argentina, Brazil, Canada, Trung Quốc, Ấn Độ và Paraguay.
Theo hệ thống phân loại dựa vào đặc điểm về hình thái, sự phân bố địa lý và số lƣợng nhiễm sắc thể do Hymowit và Newell (1984), đậu tƣơng hay đỗ tƣơng, đậu nành có tên khoa học là Glycine max L. Đậu tƣơng thuộc chi Glycine, phân họ Leguminosae, họ Đậu Fabaceae, bộ Fabales. Đây là loại cây trồng đem lại lợi ích kinh tế to lớn nhất trên thế giới hiện nay [2] , [3]. Vai trò * Giá trị dinh dưỡng Đậu tƣơng là một trong những cây trồng thƣơng mại của nhiều nƣớc.
Hạt đậu tƣơng thành phần dinh dƣỡng cao với protein chiếm khoảng 40-50%, lipit dao động từ 12-24%, carbohydrate từ 10-16%; Trong khi đó protein của gạo tẻ chỉ đạt 6,2- 12%; ngô là 9,8-13,2%; thịt bò là 21%; thịt gà là 20%; cá là 17-20%; trứng là 13- 14,8%. Nhƣ vậy, protein của đậu tƣơng có phẩm chất tốt nhất trong các protein có nguồn gốc động vật, thực vật khác [6]. Bên cạnh hàm lƣợng lớn về protein và lipit, hạt đậu tƣơng còn chứa nhiều loại axit amin trong đó có 8 axit amin không thay thế nhƣ: arginin, histidin, lysin, Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Hàm lƣợng của các axit amin có chứa lƣu huỳnh nhƣ methionin, sixtin trong đỗ tƣơng rất gần với hàm lƣợng của các chất này ở trứng.
Điều này cho thấy đây là loại hạt mà có đầy đủ các loại axit amin cần thiết. Đậu tƣơng là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng nhất thế giới. Hạt đậu tƣơng có chứa hàm lƣợng dầu béo cao hơn các loại đậu khác. Ngoài ra, trong hạt đậu tƣơng còn chứa nhiều loại vitamin đặc biệt là vitamin B1, B2, PP, A, K, C.
Hạt đậu tƣơng có chứa nhiều hợp chất phenolic nhƣ axit chlorogenic, axit caffeic, axit ferulic acid p-coumaric. Đây là những chất chống oxy hóa tác dụng có lợi cho sức khỏe con ngƣời. * Giá trị về nông nghiệp Đậu tƣơng là nguồn thức ăn cho chăn nuôi rất tốt. Chúng đƣợc sử dụng làm thức ăn tƣơi (thân, lá đậu tƣơng) cho đại gia súc, thức ăn khô (nghiền tổng hợp) cho gia cầm.
Khô dầu đậu tƣơng có hàm lƣợng dinh dƣỡng khá cao trong đó N chiếm 6,2%; P2O5 chiếm 0,7%; K2O chiếm 2,4%) [2]. Trong trồng trọt, đậu tƣơng là cây trồng luân canh cải tạo đất, chống xói mòn. Thân, lá đậu tƣơng có thể sử dụng làm phân bón, thức ăn cho chăn nuôi. Rễ đậu tƣơng có nốt sần hoạt động cung cấp đạm cho cây và cải tạo đất [3].
* Giá trị về mặt công nghiệp Bên cạnh hàm lƣợng dinh dƣỡng của đậu tƣơng thì chính giá trị protein của đậu tƣơng đã mở ra con đƣờng sản xuất sản phẩm mới và nâng cao chất lƣợng sản phẩm. Đậu tƣơng là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến nhƣ: thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, công nghệ ép dầu, cao su chất dẻo, xà phòng, tơ nhân tạo, dầu. Hiện nay, trên thế giới đậu tƣơng chiếm khoảng 50% tổng sản lƣợng sử dụng cho công nghiệp ép dầu. Dầu đậu tƣơng có rất nhiều ƣu điểm là dung dịch có mầu vàng sáng, có hệ số đồng hoá cao (98%).
Dầu đậu tƣơng có nhiệt độ đông đặc thấp (-150C; -180C) có tác dụng làm bôi trơn máy móc động cơ, chỉ số xà phòng hoá cao (185 – 195 mg) sử dụng để thuỷ phân 1 g dầu, chỉ số iốt cao (122 – 150mg) dùng để đo độ bão hoà của axit trong dầu. Ngoài ra, đậu tƣơng còn đƣợc chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau nhƣ làm nến, xà phòng, ni lông. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tƣơng là một cây trồng có khả năng thích ứng rộng nên đƣợc phân bố ở khắp các châu lục và đƣợc trồng ở nhiều nƣớc trên thế giới, tập trung ở các nƣớc có 480 vĩ độ Bắc đến 300 vĩ độ Nam. Hiện nay, phần lớn đậu tƣơng trồng trên thế giới là các giống biến đổi gen. Theo báo cáo hàng năm của ISAAA, sau 19 năm phát triển (kể từ năm 1996), các loại cây trồng chuyển gen đƣợc thƣơng mại hóa ngày càng tăng qua các năm. Tính riêng năm 2014, cây trồng biến đổi gen đƣợc trồng rộng rãi tại 28 nƣớc với tổng diện tích khoảng 181,5 triệu ha (số nƣớc trồng cây biến đổi gen tăng 4 lần, diện tích tăng hơn 100 lần so với năm 1996), tỷ lệ tăng trƣởng hàng năm khoảng 3 – 4%.