Chương 1 TỔNG QUAN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT Tìm hiểu nghi thức lời nói không chỉ bởi vì nó gắn liền với những vấn đề tương tác giữa ngôn ngữ với xã hội, phát ngôn với văn bản hay những yếu tố liên quan đến văn hóa giao tiếp của cộng đồng, mà còn bởi vì nó liên quan đến từng trường hợp giao tiếp khác nhau sẽ thích ứng với những cấu tạo về nghi thức lời nói khác nhau. Vì vậy, tìm hiểu về nghi thức lời nói là để hiểu được bản chất sự giao tiếp xã hội giữa con người, vạch ra ranh giới với các loại ngôn ngữ khác như: ngôn ngữ học tâm lý, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học phụ cận, ngôn ngữ học nhân chủng,… Bằng cách dùng nghi thức lời nói để thiết lập, con người có thể xác định tư cách và vị trí của mình với người đối thoại để giữ được phép lịch sự phù hợp trong mọi hoàn cảnh. Nghiên cứu về ngôn ngữ để từ đó đưa vào phép lịch sự trong nghi thức giao tiếp là một việc làm rất ý nghĩa. Ngôn từ với tư cách là “gói vàng” dành cho con người trong giao tiếp nhưng chỉ khi sử dụng nó theo đúng chuẩn mực trong giao tiếp thì nó mới phát huy được tác dụng.
Lý thuyết hành vi ngôn ngữ có thể lý giải được mối quan hệ giữa ký hiệu ngôn ngữ và đưa nó vào mục đích giao tiếp. Austin đã đưa ra công trình nghiên cứu phân loại hành vi ngôn ngữ, theo ông hành vi ngôn ngữ được phân chia thành ba loại: hành vi tạo lời, hành vi tại lời, hành vi mượn lời. Trong nhiều loại hành vi ngôn ngữ có mặt ở giao tiếp hằng ngày thì hành vi cầu khiến có thể nói là hành vi phổ biến nhất. Hành vi cầu khiến đã phần nào phản ánh những nét đặc trưng của văn hóa giao tiếp người Việt.
Ngoài ra nó còn cho thấy sự đa dạng, phức tạp cũng như tính đa nghĩa thể hiện trong nội dung của mỗi câu nói. Vì vậy, ai trong chúng ta cũng cần phải biết để ứng xử văn minh, ngoài ra giúp cho việc phân tích các tác phẩm văn chương, nội e 6 tâm nhân vật được sâu sắc và rõ ràng hơn. Trong đề tài này, chúng tôi đã tìm hiểu một hành vi cầu khiến cụ thể là hành vi mời trong tiếng Việt. Hành vi mời là hành vi mang tính chất lịch sự diễn ra hằng ngày trong cuộc sống của chúng ta, tìm hiểu hành vi mời giúp cho chúng ta biết rõ thêm về một cách ứng xử văn minh trong giao tiếp.
Vì những tính chất quan trọng của các vấn đề nêu trên, chúng tôi sẽ đi vào phân tích sâu hơn các khái niệm về nghi thức lời nói, hành vi ngôn ngữ, hành vi cầu khiến và hành vi mời trong chương này. Những lý luận chung của nghi thức lời nói Mối quan hệ giữa người với người được thể hiện bằng những nghi thức lời nói trong đời sống, với nhiều sắc thái như: cởi mở, lạnh lùng, thân thiết, xã giao, đơn giản,… Nghi thức lời nói sẽ tạo ra những khuôn hình câu và khuôn hình từ để thích ứng với từng tình huống giao tiếp. Khi ngôn ngữ học chuyển dần sang hướng nghiên cứu lời nói, thuật ngữ Nghi thức lời nói cũng xuất hiện và có mối quan hệ với khái niệm nghi thức. Nghi thức là những chuỗi các hoạt động như cử chỉ, lời nói, hành động được sắp xếp theo thứ tự và trình tự được thiết lập.
Trong giao tiếp, nghi thức có thể hiểu là một hệ thống phức tạp ghi lại các dấu hiệu được thể hiện trong cuộc giao tiếp như thái độ giữa hai bên đối thoại, sự đánh giá đối phương và nhận xét chính mình, xác định vị trí của bản thân trong cuộc đối thoại. Ví dụ: (1) Chào hỏi khi gặp nhau; dấu hiệu này tồn tại khi bản thân nó có quan hệ với một người khác vì nó có ý nghĩa chào hỏi hoặc làm quen. Điều này nói lên hai bên hội thoại có thái độ thân thiện với nhau hoặc là có mục đích khi muốn làm quen. Có rất nhiều các công trình nghiên cứu về nghi thức lời nói, trong đó phải kể đến cuốn “Nghi thức lời nói Nga”, N.Formanovskaija, bà cho rằng nghi thức lời nói là “những quy tắc ứng xử lời nói đặc trưng của từng dân tộc e 7 được dùng trong các tình huống có những người đối thoại đang tiếp xúc và giao tiếp với giọng điệu được lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, với các dấu hiệu xã hội của những người đối thoại và của các mối quan hệ giữa họ với nhau, và được biến thành các động hình giao tiếp” [1, tr.
Xã hội nào cũng có những lễ nghi ứng xử riêng và đòi hỏi con người phải tuân thủ theo những quy tắc ấy. Trẻ em ngay từ lúc nhỏ đã được dạy cho những lễ nghi này như biết chào hỏi khi vừa đi học về, biết cảm ơn khi nhận được điều gì từ người khác, biết xin lỗi khi mắc sai lầm, chúng còn được dạy phải chỉ trích những ai không tuân thủ các quy tắc ấy. Ở luận văn này, chúng tôi đi theo định nghĩa của N.Formanovskaija và đưa nó vào nghiên cứu. Nghi thức lời nói phục vụ cho các tình huống giao tiếp nghi thức, nghĩa là những tình huống có các cách ứng xử văn minh, lịch sự, trang nghiêm, trân trọng.
Loại bỏ những hành vi ứng xử không mang tính nghi thức như dọa nạt, chửi mắng,… Từ đây, chúng tôi thử nêu ra một định nghĩa về nghi thức lời nói: Nghi thức lời nói là những hành vi ứng xử dựa theo nguyên tắc chung của cộng đồng, mang tính văn minh, vững bền, phục vụ cho việc sử dụng ngôn từ trong các tình huống giao tiếp nghi thức. Những mẫu đối thoại có chứa nghi thức lời nói Trong một tình huống đối thoại, sẽ có hai phần được gọi là thoại dẫn và thoại đáp, nghi thức lời nói sẽ giúp cho phần nội dung của mẩu đối thoại này được đầy đủ và mang tính lịch sự hơn. Thoại dẫn là lời thoại dùng để bắt đầu một cuộc đối thoại và đi vào một sự việc nào đó. Thoại đáp là câu trả lời của nhân vật thứ hai khi tiếp nhận thoại dẫn của đối phương.
Ví dụ: (2) SP1: - Phiền anh thật ngại quá! Tôi rót anh một cốc nước nhé? SP2: - Cảm ơn cô, chuyện đáng gì đâu. e 8 Trong mẫu hội thoại này, thoại dẫn thể hiện sự cảm thán. Để có thể biến thoại gợi và thoại đáp là một chỉnh thể hoàn chỉnh, cần phải chú ý đến đặc điểm ngữ pháp của các phát ngôn. Phương tiện giao tiếp phi lời kèm theo nghi thức lời nói Phương tiện giao tiếp phi lời có thể hiểu là những hành vi ứng xử hoặc là thay hoặc là đi kèm lời nói.
Tùy vào tình huống giao tiếp mà có những phương tiện giao tiếp phi lời phù hợp. Chẳng hạn khi thầy giáo nhận được lời chào từ một học sinh khi đi ngang qua nhau, có thể dùng hành động gật đầu (hoặc kèm theo nụ cười) để thể hiện sự tiếp nhận của mình thay lời nói, nhưng khi gặp một người thầy giáo khác chào hỏi, thì phải có lời đáp kèm theo cái gật đầu, nếu không sẽ bị vi phạm quy tắc lịch sự. Đi xe buýt gặp phụ nữ mang thai hay người già thì phải chủ động nhường ghế, vào nhà phải để dép bên ngoài, những cái bắt tay nồng nhiệt, nụ cười cởi mở cảm thông, sự thấu hiểu từ biểu cảm khuôn mặt hay một sự giúp đỡ đúng lúc đều là những hành động phi lời mang đến những cách ứng xử văn hóa văn minh. Văn hóa của một quốc gia được đánh giá qua nhiều mặt và trong đó quy tắc ứng xử là một mặt rất quan trọng.
Một trong những quy tắc ứng xử đó là phép lịch sự, phép lịch sự có thể được thể hiện bằng hành động hoặc lời nói, nó là một nhân tố quan trọng giúp duy trì các mối quan hệ xã hội và ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp. Như vậy, lịch sự gắn liền với thế giới con người và mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Sự tồn tại và hoạt động của nghi thức lời nói Nghi thức lời nói tồn tại trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, trong ngôn ngữ sinh hoạt. Có thể dễ dàng nhận thấy trong cuộc sống hằng ngày, ở tình huống giao tiếp, trong các tác phẩm văn học miêu tả đời sống nhân vật.
Chúng ta luôn hướng tới một xã hội ngày càng văn minh hơn, vậy nên việc đưa ngôn ngữ hằng ngày vào nghi thức lời nói là một điều rất quan trọng. Việc sử dụng e 9 nghi thức lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp giúp tạo nên những con người lịch sự, loại bỏ những phát ngôn kém văn hóa, thô lỗ. Nghi thức lời nói đã có từ xa xưa trong những câu ca dao, tục ngữ mà ông cha ta đã để lại, những lời khuyên nhủ về cách ăn, cách nói, cách đứng, cách ngồi,… sao cho phù hợp với lễ nghi: Ví dụ: (3) - Lời chào cao hơn mâm cỗ. (Tục ngữ) - Đi thưa về trình.
(Thành ngữ) - Chim khôn kêu tiếng rảnh rang Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe. (Tục ngữ) - Kính trên, nhường dưới. (Tục ngữ) - Kính lão đắc thọ. (Tục ngữ) - Đất tốt trồng cây rườm rà Những người thanh lịch nói ra dịu dàng.
Tiêu chí nhận diện các khuôn mẫu nghi thức lời nói tiếng Việt Không phải tất cả ngôn ngữ nào cũng đều có tính chất nghi thức lời nói, những phát ngôn này phải được xã hội công nhận về sự chân thực, lịch thiệp, tạo hiệu quả giao tiếp văn hóa. Cả Austin và Searle đều có công trình nghiên cứu phân loại các hành vi ngôn ngữ. Vì nghi thức lời nói giúp cho hiệu quả giao tiếp được nâng cao và thể hiện văn hóa của từng dân tộc nên mỗi khuôn mẫu nghi thức lời nói phải được dùng với tần số cao và được dân tộc đó công nhận. Có thể xem đây là tiêu chí đầu tiên của một khuôn mẫu nghi thức lời nói.
Lấy một vài ví dụ về mệnh đề “Bác vào nhà”, các câu thoại có thể như: e 10 (4) Cháu mời bác vào nhà chơi ạ! Bố cháu đang chờ bác đấy. (5) Bác vào chơi! (6) Mời bác vào nhà! (7) Vào nhà đi bác! Ở những ví dụ trên có thể thấy, dù cùng một đích ở lời nhưng vì cách nói khác nhau dẫn đến những ý nghĩa và hiệu quả khác nhau, ở số 5),7) có thể thấy rằng phải sử dụng đúng trường hợp, ngữ cảnh nếu không sẽ tạo nên hiệu quả giao tiếp kém.