CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE NĂNG LỰC CÁN BỘ NGHIÊN CỨU 1. Năng lực và khung năng lực 1. Năng lực làm việc của nhân viên Đề đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận văn, khái niệm trung tâm được sử dụng là “năng lực”. Hiểu một cách đơn giản, năng lực là khả năng thực hiện được một công việc với một kết quả nhất định.
Năng lực là yếu tố tiềm ân trong mỗi con người, có thé do bam sinh và cũng có thé do quá trình học tập, tích lũy, rèn luyện mà có được. Kiến thức và kỹ năng thuần thục dé hoàn thành một công việc cũng chính là năng lực. Kiến thức và kỹ năng chỉ trở thành năng lực khi kiến thức và kỹ năng ay được sử dung dé thực hiện một công việc và tạo ra được một kết quả nào đó. Chúng ta có thé chia năng lực thành nhiều dang: năng lực quản lý, năng lực chuyên môn, năng lực tư duy.
Thuật ngữ “năng lực” vận động theo thời gian và chưa có sự thống nhất trong các nhà khoa học. Tuy nhiên, các định nghĩa đều xác định năng lực là các đặc điểm cá nhân của một cá nhân nào đó cho phép tạo ra chất lượng thực thi công việc tốt [Nhà khoa học Anne Bourhis, 2000]. Năm 1987, nhà khoa học Bolt định nghĩa năng lực “Ja sự kết hop dong thời những kiến thức, kỹ năng và thái độ cân có đề hoàn thành tốt một vai trò hay một công việc được giao ” [25]. Các học giả và nhà quản lý đưa ra nhiều định nghĩa về năng lực.
Nhiều khái niệm khiến người đọc bối rối và chưa có tác dụng thiết thực trong việc tạo ra các phương pháp nâng cao năng lực. “Năng lực” theo Từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng đủ để làm một công việc nào đó” [19, tr.524] hay “Năng lực là 19 những điêu kiện được tạo ra hoặc von có đề thực hiện một hoạt động nào do“ [19, tr. Năm 1982, giáo su Richard E. Boyatizis thuộc trường dai học Case Western Reserve định nghĩa: “Năng lực là yếu tố ẩn sâu trong từng nhân viên (bao gom: động lực làm việc, ca tính, kỹ năng, hình anh, vai trò xã hội, kiến thức) ảnh hưởng đến việc thực hiện một công việc cụ thể“ [27].
Theo nha tam ly hoc Bernard Wynne va David Stringe thì “Năng luc là đặc điểm, tinh cách của một người góp phan tạo nên kết quả công việc của người đó và góp phan đạt mục tiêu của tổ chức. Năng lực bao gom kỹ năng tích lũy được, kiến thức, cách cư xử và thai độ của một cá nhân ap dụng dé hoàn thành một công việc nado đó ” [23]. Như vậy, năng lực là khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó một cách đầy đủ và có chất lượng. Năng lực thể hiện bằng hành vi có thể quan sát, đo lường trong điều kiện làm việc.
Năng lực chỉ được xác định trong hành động và chỉ có thể nhận biết năng lực của một cá nhân qua công việc người đó làm. Năng lực là một thuộc tính cá nhân, phụ thuộc vào bối cảnh. Muốn làm việc hiệu quả, người lao động không chỉ cần “biết làm” (có kiến thức, kỹ năng cần thiết” mà còn phải “muốn làm” (liên quan đến động cơ, thái độ làm việc của cá nhân) và “có thé làm” (được tổ chức tạo điều kiện cho cá nhân áp dụng những điều đã biết làm vào thực tiễn công tác) [Nhà khoa học Clesesmeent Mesnard, 2002]. Khái niệm năng lực không chỉ là yếu tố thuộc về từng cá nhân, người ta còn đề cập đến khái niệm năng lực của tổ chức.
Năng lực của tô chức không phải là phép cộng đơn giản năng lực của các thành viên mà năng lực của tổ chức sẽ lớn hơn rất nhiều năng lực của từng cá nhân cộng lại nếu tô chức đó được van hành tốt. Năng lực của tổ chức có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của tô chức. Dé tô chức tôn tại va phát triên thì diém mâu chot là phải nâng cao năng lực của 20 tổ chức ấy. Năng lực của tổ chức được định nghĩa như sau: “Năng lực của tổ chức bao gém việc cải thiện quy trình, khả năng làm việc theo nhóm, phương pháp đánh giá, giá trị, quản lý dự án, sáng tạo, kiến thức quan lý.
a” Tuy nhiên, trong khuôn khô của luận văn này chỉ đê cập đên năng lực ở cap độ cá nhân. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, định nghĩa năng lực được hiéu như sau: “Nang lực làm việc bao gom kỹ năng, kiên thức va thái độ của một cá nhân để thực hiện một công việc nhất định”. Năng lực = Kiến thức + Kỹ năng + Thái độ (Nguồn: Bernard Wynne, David Stringer (1977), “Conpetency Based Approach to Training and Developmenf”). Trong đó: Kiến thức Hiểu một cách đơn giản, kiến thức là những hiểu biết về một sự vật hay hiện tượng mà con người có được thông qua trải nghiệm thực tế hoặc giáo dục.
Có ý kiến cho rằng: “Kiến thức tiếp thu được nhờ suy diễn vừa có thé khái quát hóa được lại vừa chính xác. Hệ quả rút ra được là kiến thức dang tin cậy cũng luôn phải dựa trên kết luận suy diễn ” [28]. Kỹ năng Theo nghĩa thông thường, kỹ năng là khả năng ap dung tri thức khoa học vào thực tiễn đề giải quyết một công việc cụ thê nào đó. Chúng ta thường nói đến kỹ năng nghề nghiệp — tức là khả năng vận dụng những tri thức của từng cá nhân vào một nghề nghiệp cụ thể nhằm tạo ra một kết quả ccong việc nao đó.
Để có một nghề nào đó bắt buộc các cá nhân phải có kỹ năng nghề nghiệp cơ bản. Chăng hạn đối với nghề quản lý thì kỹ năng cơ bản bao gồm: Kỹ năng định hướng, kỹ năng về con người và kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật. 21 Thái độ Cùng với kiến thức và kỹ năng, thái độ là một trong ba yếu tố quan trong cau thành năng lực. Ba yếu tố này có mối liên hệ mật thiết với nhau và bé sung cho nhau.
Một cá nhân có kiến thức và kỹ năng nhưng thái độ với công việc không tốt thì kết quả công việc sẽ không tốt. Thái độ với một công việc được hiểu là quan điểm, quan niệm về giá trị, thế giới quan, suy nghĩ, tình cảm, ứng xử của cá nhân với công việc đang đảm nhận. Khung năng lực và các yếu tố cau thành khung năng lực 1. Khai niệm khung năng lực Khung năng lực phản ánh toàn bộ năng lực mà một cá nhân cần có để đảm nhiệm một vi trí làm việc hay một công cụ nao đó (Nhà khoa hoc Pastor và Bresard, 2007).
Khung năng lực là công cụ hữu hiệu để quản lý và phát triển nguồn nhân lực. Có nhiều loại khung năng lực khác nhau. Khung năng lực cho toàn bộ nền công vụ, một ngành bao quát một lượng lớn nhất có thé các năng lực được sử dụng. Khung năng lực có thé do một tô chức xây dựng, áp dụng cho toàn bộ tô chức (gọi là khung năng lực của tô chức) hoặc cho một vi trí làm việc (khung năng lực cua vi trí làm việc).
Khung năng lực là một công cụ biến đổi không ngừng, bởi vì những thay đôi trong tô chức, trong xã hội, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ mới có thể tác động tới năng lực cần phát triển để đáp ứng những yêu cầu mới gắn với những thay đôi này. Nó thé hiện sự lựa chon gắn với hệ thống giá trị của tô chức. Đề hoàn thành một công việc đòi hỏi nhiều năng lực nên tập hợp các năng lực cân thiệt cho một vi trí công việc được gọi là “khung năng lực”. 22 Như vậy, có thể hiểu khung năng lực là một bản mô tả về năng lực mà mỗi người trong cương vị công tác của mình cần có để hoàn thành nhiệm vụ công việc được giao.
Mục đích xây dựng khung năng lực là để lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hiện tại và tương lai của tổ chức. Khung năng lực giúp cho chúng ta: - Tập trung vào kết quả cuối cùng gắn với mục tiêu của tô chức đề ra, tạo ra thói quen hướng tới kết quả cần đạt được, từ đó giúp nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ nhân viên trong tô chức. - Giúp cho việc phát triển nguồn nhân lực gắn liền với nhu cầu thực tế của tổ chức. - Lựa chọn đúng người đúng việc.
Trên cơ sở khung năng lực đã được xây dựng, nếu người nào đạt được các yêu cầu thì người đó sẽ được đánh giá là hoàn thành tốt yêu cầu của vị trí công việc đó. - Giúp cho nhân viên tự đánh giá được kết quả công việc và nhận biết được năng lực của mình. - Thúc day quá trình tự học tập nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu công việc của tô chức. Các yếu tô cầu thành khung năng lực Khung năng lực bao gồm: năng lực chung, năng lực cụ thể và diễn giải về năng lực cụ thê.
Năng lực chung là những yêu cầu chung cho một vị trí công việc mà một người làm việc cần có đề thực hiện tốt vai trò của mình. Năng lực cụ thể: mô tả về những lĩnh vực, những mặt hoạt động chính ma một vị trí công tác phải thực hiện trong mỗi năng lực chung. 23 Diễn giải vê năng lực cụ thê: mỗi năng lực cụ thê được diễn giải băng một sô mệnh đê dé đảm bảo sự thông nhât cách hiệu vê môi năng lực đó. Khung năng lực được tiễn hành xây dựng như sau: Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ, bản mô tả công việc, tiêu chuân nghê nghiệp của nhân viên và một sô tài liệu liên quan kêt hợp với phỏng vân sâu cán bộ quản lý đê xác định yêu câu năng lực ma đội ngũ cán bộ nghiên cứu cân có.
Trên cơ sở yêu câu năng lực, xác định những năng lực đã đáp ứng và những năng lực còn yêu, chưa đáp ứng được yêu câu công việc hiện tại và tương lai. Từ đó xác định nguyên nhân gây ra các diém yêu về năng lực đê có kê hoạch nâng cao năng lực. Các đê xuât nâng cao năng lực cá nhân sẽ dựa trên kêt quả đánh giá mục tiêu của đơn vị trong từng giai đoạn cụ thê. Sau đây là một ví dụ về khung năng lực: Năng lực chung Năng lực cụ thé Diễn giải năng lực cụ thé Quản lý bản thân Kiêm soát và làm - Có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, được chủ bản thân mọi người tín nhiệm.
- Nêu cao tinh thần đoàn kết trong đơn vị công tác. - Bình tĩnh, biết phán đoán, quyết đoán.