phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nâng cao hứng thú học tập môn Hóa học cho học sinh THPT thông quan sử dụng công nghệ hình ảnh trong dạy học. Thiết kế các chủ đề và kế hoạch dạy học chủ đề nhôm, sắt có sử dụng công nghệ hình ảnh nhằm nâng cao hứng thú học tập môn Hóa học cho học sinh. Thực nghiệm sƣ phạm.
5 c CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ HÌNH ẢNH TRONG DẠY HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Một số công trình nghiên cứu về dạy học theo chủ đề có ứng dụng công nghệ hình ảnh 1. Trên thế giới Theo tác giả Mohammad Robiul Hussain, hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một công cụ ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) hữu ích giúp thu hẹp khoảng cách giữa các yêu cầu và thực tế.
Trong đó, điều đáng nói là hệ thống GIS có thể giúp trả lời các câu hỏi và giải quyết các vấn đề dựa trên cơ sở dữ liệu đƣợc cung cấp một cách nhanh chóng và dễ dàng chia sẻ bởi GIS có thể liên kết các dữ liệu riêng lẻ trên cơ sở vị trí địa chung, tạo thông tin mới từ nguồn dữ liệu hiện có. Dựa trên những lợi ích của GIS, Nihal Ugurul đã nghiên cứu việc sử dụng GIS cho các mục đích giáo dục tại Thổ Nhĩ Kỳ khi nhận thấy việc sử dụng CNTT trong môi trƣờng học tập có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu tích hợp giữa các hoạt động dạy và học cùng với công nghệ của chƣơng trình giảng dạy trong xã hội hiện đại nhằm đƣa giáo dục và các quá trình sƣ phạm trong trƣờng học gắn liền với các điều kiện của cuộc sống. Trong nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra việc sử dụng GIS cho mục đích giáo dục đã mang lại các kết quả tích cực, đó là GIS đã hỗ trợ cho việc cấu trúc môi trƣờng học tập theo hƣớng tích cực và phù hợp với môi trƣờng học tập lấy học sinh (HS) làm trung tâm dựa trên các bản đồ tƣơng tác. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chứng minh mức độ tác động tích cực của các bản đồ GIS về sự biểu đạt khác nhau của dữ liệu không gian đối với kỹ năng tƣ duy học tập và thái độ tích cực với các công cụ công nghệ của HS [28].
Kế tiếp công bố của Nihal Ugurul, năm 2012, Soon Singh Bikar Singh và cộng sự đã tiếp tục thực hiện cuộc khảo sát về việc sử dụng GIS trong dạy học môn Địa lý tại 6 trƣờng học thông minh ở Sabah, Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy gần 90% các giáo viên (GV) dạy môn Địa lý đều nhận thức đƣợc tầm quan trọng của GIS trong giảng dạy Địa lý và đặc biệt là đƣa ra khuyến cáo cho Ban xây dựng chƣơng 6 c trình và Bộ giáo dục Malaysia nhận thấy sự cần thiết phải xây dựng mới các chủ đề dạy học Địa lý theo hƣớng tích hợp công nghệ GIS [26]. Năm 2018, Yavuz Degirmenci đã thực hiện một nghiên cứu định tính ý kiến của các GV tại các trƣờng học khác nhau thuộc một thành phố của Thổ Nhĩ Kỳ thông qua hình thức phỏng vấn bán cấu trúc đƣợc phát triển bởi nhà nghiên cứu và chuỗi dữ liệu thu đƣợc bằng cách phân tích thông qua phƣơng pháp phân tích nội dung. Và các kết quả thu thập đƣợc cũng chỉ ra các GV ở đây đều đồng ý về sự cần thiết sử dụng GIS trong các bài học Địa lý bởi GIS trong các bài học địa lý đã góp phần phát triển kỹ năng đọc và hỏi bản đồ ở HS [23].
Ngoài ra một số tác giả cũng đã có công trình nghiên cứu về GIS, StoryMap nhƣ: - Kathryn Keranen, Lyn Malone, and Michael Wagner, Teach with GIS Implementation Guide For the classroom, The Science of Where, ESRI, 2018. Battersby and Kevin C. Remington, Story maps in The Classroom, Computer Lab Activities Develop Spatial Reasoning and Analysis Skills, Education, 2013. - Caitlin Strachan, Jerry Mitchell, Teachers’ Perceptions of Esri Story Maps as Effective Teaching Tools, Review of International Geographical Education Online, 4 (3), 2014.
Ở Việt Nam Tại Việt Nam, các nhà giáo dục cũng đã bắt đầu nhận thức đƣợc tính năng nổi trội của công nghệ hình ảnh (CNHA), đặc biệt là GIS khi ứng dụng vào quá trình giảng dạy các môn học. Cụ thể: - Điển hình là công trình nghiên cứu của tác giả Phan Văn Trung đã chứng minh đƣợc GIS khi đƣợc tích hợp trong giảng dạy và nghiên cứu môn Lịch sử sẽ “Phát huy tƣ duy trừu tƣợng và tƣ duy thực tiễn cho ngƣời học thông qua chuyển kênh chữ thành kênh hình, tạo hứng thú cho ngƣời học thông qua kênh hình trực quan, phát huy tƣ duy logic thông qua bản đồ khung, bổ sung thêm phƣơng tiện dạy theo xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học” và là “Công cụ hỗ trợ đắc lực cho nghiên cứu lịch sử chuyên sâu” [18]. - Năm 2019, tác giả Bùi Thị Thanh Hƣơng và cộng sự đã giới thiệu các ứng dụng của GIS trong giảng dạy các môn Vật lý, Hóa môi trƣờng, Khoa học trái đất và Sinh thái học ở cấp độ giảng dạy đại học trên cơ sở phát triển các quy trình triển khai 7 c dạy học với GIS của các môn học này và bƣớc đầu cũng đã chứng minh đƣợc tính hiệu quả của GIS trong dạy học (Bùi Thị Thanh Hƣơng, Phạm Kim Giang, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, “Geographic information system (GIS) in teaching: Principles and paradigms”). Một số công trình nghiên cứu nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh Đến nay, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về hứng thú học tập của HS nhƣ: Luận văn Thạc sĩ của tác giả Đào Thị Liên (2014) với đề tài: “Những yếu tố ảnh hƣởng đến hứng thú học tập của sinh viên năm nhất” đã đƣa ra hệ thống hóa cơ sở lý luận về hứng thú học tập và những yếu tố ảnh hƣởng đến hứng thú học tập của sinh viên năm nhất.
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Vân (2014) với đề tài: “Tạo hứng thú học tập cho HS yếu kém trong quá trình dạy học phần Phi kim - Hóa học 11 THPT” đã đƣa ra một số biện pháp giúp tạo hứng thú học tập cho HS, đồng thời tác giả đƣa ra kế hoạch dạy học của một số bài trong phần Phi kim với mục tiêu tạo hứng thú học tập cho HS. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nhâm (2014) với đề tài: “Nâng cao hứng thú học tập cho HS trong dạy học chƣơng oxi – lƣu huỳnh, Hóa học lớp 10 khi có sử dụng thí nghiệm Hóa học”, trong luận văn tác giả đã đƣa ra hệ thống cơ sở lý luận về hứng thú học tập và đề xuất một số kế hoạch dạy học cụ thể nhằm nâng cao hứng thú học tập cho HS. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Mai Trang (2015) với đề tài: “Dạy học phân hóa phần dẫn xuất của hidrocacbon nhằm nâng cao hứng thú học tập môn Hóa học cho học sinh trung học phổ thông”, trong luận văn tác giả đã đƣa ra hệ thống cơ sở lý luận về dạy học phân hóa và kế hoạch dạy học cụ thể nhằm nâng cao hứng thú học tập cho HS. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Minh Ngọc (2016) với đề tài: “Tạo hứng thú học tập cho HS trung bình và yếu trong quá trình dạy học chƣơng Kim loại kiềm, kiềm thổ, nhôm – Hóa học 12 – THPT” đã đƣa ra những nguyên nhân dẫn đến việc HS học yếu kém và một số biện pháp giúp tạo hứng thú học tập cho HS, đồng thời tác giả đƣa ra kế hoạch dạy học của một số bài trong chƣơng Kim loại kiềm, kiềm thổ, nhôm với mục tiêu tạo hứng thú học tập cho HS.
8 c Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thúy (2016) với đề tài: “Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng các thí nghiệm Hóa học, bài tập thực nghiệm để tạo hứng thú và rèn luyện tƣ duy cho HS qua dạy học phần Phi kim, Hóa học 10 nâng cao”, trong luận văn tác giả đã xây dựng hệ thống các thí nghiệm Hóa học và bài tập thực nghiệm phần Phi kim. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Liên (2018) với đề tài: “Sử dụng thí nghiệm trong dạy học chƣơng “Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học” nhằm phát triển năng lực thực nghiệm cho HS”, trong luận văn tác giả đã đề xuất những phƣơng pháp sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển năng lực thực nghiệm cho HS trong dạy học chƣơng Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học – Hóa học 10. Công nghệ hình ảnh trong dạy học 1.0 trong dạy học Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay đƣợc biết đến với các đặc điểm nhận diện nhƣ: robot, kết nối vạn vật qua Internet (Internet of Things), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ in 3D, trí tuệ nhân tạo.Dù các chiều cạnh của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 không diễn ra một cách đồng thời, nhƣng nó bắt đầu có những ảnh hƣởng đến nền giáo dục hiện hành và định hình cho tƣơng lai của giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng [14]. Một số đặc điểm nổi bật của GV thời công nghệ 4.0: - Sự nhạy bén với hệ thống, kho thông tin.
- Thay đổi trong cách tiếp cận, ứng dụng công nghệ vào giáo dục. Những đặc điểm của GV trong cách giảng dạy truyền thống thầy đọc trò chép hay giáo án viết tay đã không còn phù hợp. Sự thay đổi của công nghệ giúp GV tiếp cận với phƣơng tiện mới nhƣ máy tính, mạng Internet. Những công cụ đó đã trực tiếp làm tăng hiệu suất lao động.
Hơn nữa, thị hiếu của mọi ngƣời nói chung luôn bị thu hút bởi các sản phẩm đa phƣơng tiện nhƣ hình ảnh, video,… HS cũng không ngoại lệ. Bài giảng trên powerpoint kèm hình ảnh trực quan luôn sinh động hơn các phƣơng pháp “bảng phấn” thông thƣờng. Nhìn chung, các GV đang quen với việc sử dụng công nghệ ảo để mô phỏng bài giảng. - Vai trò mới của ngƣời thầy: Trƣớc đây, GV thƣờng tập trung xung quanh vai trò “dạy học”.
Cụ thể, thầy cô dạy lại cho HS những điều mình đã biết. Hiện nay, GV trở thành ngƣời “hƣớng dẫn” HS cách học. Điều GV truyền đạt mỗi ngày không còn là kiến thức cụ thể, mà 9 c phải là phƣơng pháp giúp HS nắm vững kiến thức.