CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGẮN HẠN 1. Tổng quan về tín dụng ngắn hạn Tín dụng ngắn hạn là những khoản tín dụng có thời hạn cho vay tối đa là 12 tháng, được sử dụng để bù đắp cho sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng Thực hiện theo quy định của luật số 02/1997/Q10 - Luật các Tổ chức tín dụng. Tuân theo các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật tổ chức tín dụng.
Quy chế cho vay theo quyết định của Thống Đốc NHNN Việt Nam. Bên cho vay là các TCTD được thành lập, cấp giấy phép hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam theo quy định của luật các TCTD đều được phép huy động vốn và cho vay ngắn hạn tài trợ cho hoạt động kinh doanh cho các tổ chức kinh tế. Gồm: NHTM, NH liên doanh, Quỹ Tín dụng nhân dân. Bên đi vay là những pháp nhân, thể nhân hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật Việt Nam.
Gồm: DN, các hộ gia đình và các thể nhân đủ điều kiện vay vốn. Đặc trưng Đây là hình thức cho vay truyền thống lâu đời của các NHTM. Luôn chiếm tỷ trọng cho vay cao trong hoạt động của các NHTM. Đối tượng và các hình thức tín dụng ngắn hạn rất đa dạng, bao gồm nhà nước, các tổ chức tài chính, DN và người tiêu dùng.
Nên các hình thức cho vay cũng đa dạng và phong phú. Tùy theo đối tượng, mục đích vay mà NHTM có thể xác định các phương thức cho vay phù hợp. Tín dụng ngắn hạn gắn liền với chu kỳ ngân quỹ và nhu cầu vốn thời vụ của DN, các khoản vay ngắn hạn phụ thuộc vào nhiều quá trình luân chuyển vốn lưu động của DN nên thời hạn thu hồi vốn nhanh. Xuất phát từ các đặc điểm này, các NHTM thường xác định thời hạn cho vay dựa trên chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng để có kế hoạch quản lý nợ và hình thức cho vay phù hợp.
Vai trò của tín dụng ngắn hạn 4 c Hoạt động tín dụng ngắn hạn của NHTM có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Nguồn vốn vay ngắn hạn đã góp phần ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất – kinh doanh đối với doanh nghiệp, nâng cao đời sống của các cá nhân, hộ gia đình. Khi nói đến cho vay ngắn hạn, điều quan trọng mà chúng ta phải quan tâm là hiệu quả của các khoản vay. Hiệu quả của các khoản vay phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thể hiện tính ổn định và khả năng sinh lời của Ngân hàng.
Đối với nền kinh tế NHTM là một trung gian tài chính quan trọng, là nơi gặp gỡ của tiết kiệm và đầu tư với những đặc điểm ưu việt hơn cả: rủi ro thấp nhất, bình quân lãi suất, chuyển đổi kỳ hạn. Cho vay là một hoạt động mang tính chất đầu tư cho nền kinh tế của NHTM. Khác với thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty tài chính là các tổ chức tài chính chủ yếu cung cấp vốn trung và dài hạn vào nền kinh tế, thì NHTM có trách nhiệm cung cấp vốn ngắn hạn cho nền kinh tế. Đối với doanh nghiệp Tín dụng ngắn hạn là nguồn bổ sung kịp thời cho các nhu cầu về vốn ngắn hạn của doanh nghiệp.
Nguồn vốn này giúp các doanh nghiệp tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh, hoặc giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn tạm thời về tài chính. Trong nhiều trường hợp, vay vốn Ngân hàng còn là giải pháp tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bắt kịp những cơ hội kinh doanh tập trung được thời cơ phát triển sản xuất. Tín dụng ngắn hạn đồng thời là động lực, yếu tố kích thích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Các điều kiện trong cho vay ngắn hạn tạo áp lực buộc doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
Khi doanh nghiệp vay vốn từ Ngân hàng thì áp lực mà họ phải chịu là khoản gốc và lãi sẽ phải trả khi đến hạn, chính vì điều này nên các doanh nghiệp sẽ phải cố gắng quay vòng vốn nhanh và tìm kiếm cơ hội kinh doanh tốt nhất. Đối với sự tồn tại và phát triển của NHTM Hoạt động tín dụng ngắn hạn là hoạt động cơ bản, nguồn thu chủ yếu của NHTM. Tín dụng ngắn hạn luôn là hình thức chủ đạo của Ngân hàng, tạo nguồn thu chủ yếu để bù đắp các chi phí (chi phí huy động vốn, chi phí cho hoạt động của Ngân hàng – chi trả lương, 5 c chi phí quản lý). Mặt khác tín dụng ngắn hạn còn là yếu tố quan trọng để đảm bảo khả năng thanh khoản của Ngân hàng, làm tăng tính thanh khoản.
Các loại hình tín dụng ngắn hạn 1. Cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu Trọng quá trình sản xuất kinh doanh, nếu khách hàng phát sinh nhu cầu bổ sung vốn lưu động thì ngân hàng sẽ giải quyết cho vay. Tiền vay phát sinh ra theo đúng đối tượng theo phương án sản xuất – kinh doanh của khách hàng. Đây là hình thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động để thanh toán các chi phí trong nước phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc có nhu cầu mở rộng quy mô hoạt động nhưng nguồn vốn lưu động bị thiếu hụt.
Phương thức cho vay được sử dụng là cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức tín dụng, tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng. Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng Thông thường để tài trợ các công trình xây dựng lớn, người vay hay vay vốn trung và dài hạn, tuy nhiên trong quá trình chờ giải ngân vốn, doanh nghiệp thường phải đi vay ngắn hạn để phục vụ các hoạt động giải phóng mặt bằng, thuê nhân công, mua thiết bị xây dựng, nguyên vật liệu. Khi giai đoạn xây dựng kết thúc, doanh nghiệp sử dụng vốn được giải ngân để trả cho các khoản vay ngắn hạn hoặc sử dụng công trình để vay thế chấp dài hạn. Kỳ hạn của những khoản vay này được tính toán theo các giai đoạn thi công khác nhau, có thể dài hơn 1 năm.
Cho vay kinh doanh bán lẻ Đối tượng khách hàng của loại vay này là những người kinh doanh hàng hóa lâu bền như ô tô, đồ dùng gia đình.Ngân hàng có thể cho vay thông qua việc hỗ trợ người tiêu dùng mua trả góp hàng hóa các hợp đồng trả góp sẽ được ngân hàng mua lại. Ngoài ra Ngân hàng cho những người bán lẻ vay mua hàng và sử dụng ngay những hàng hóa này để làm vật thế chấp, khi hàng hóa bán thu được tiền sẽ trả lại cho Ngân hàng. Cho vay chiết khấu chứng từ có giá Chứng từ có giá là những phương tiện chuyển tải và dự trữ giá trị, do những đơn vị được phép phát hành hợp pháp như: Kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, thương phiếu. Những 6 c chứng từ này được luật pháp thừa nhận.
Chúng được coi là tài sản của những người sở hữu. Khi chưa đến hạn thanh toán, người sở hữu chúng có thể mang chúng đến bán tại NHTM. Việc mua các chứng từ chưa đến hạn thanh toán của khách hàng được gọi là nghiệp vụ chiết khấu. Như vậy, chiết khấu chứng từ có giá là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được thực hiện dưới hình thực chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho ngân hàng để nhận một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi mức chiết khấu.
Các phương thức cho vay ngắn hạn 1. Phương thức cho vay từng lần Cho vay từng lần được áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vốn không thường xuyên. Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng cho vay làm thủ tục vay vốn cần thiết và kí kết hợp đồng tín dụng. Số tiền cho vay = Tổng nhu cầu vốn của dự án hoặc phương án – Vốn chủ sở hữu hoặc vốn tự có và vốn tham gia khác (nếu có) Mỗi hợp đồng tín dụng có thể phát tiền vay một hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ và nhu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng.
Mỗi lần nhận tiền vay khách hàng lập giấy nhận nợ. Trên giấy nhận nợ phải ghi thời hạn cho vay cụ thể, đảm bảo không vượt so với thời hạn cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng. Loại tiền nhận nợ phải phù hợp với loại tiền xác định trên hợp đồng tín dụng. Tiền vay phát bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản theo mục đích sử dụng tiền vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Ngân hàng cho vay quản lý chặt chẽ các khoản phát tiền vay của một phương án hay dự án, bảo đảm tổng số tiền cho vay trên các giấy nhận nợ không vượt quá số tiền đã kí trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng tiến hành thu nợ gốc theo thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng, khách hàng phải chủ động trả nợ khi đến hạn và có thể trả trước hạn. Bên cạnh đó lãi được tính và thu cùng với ngày trả nợ gốc hoặc tính và thu hàng tháng vào một ngày quy định được ghi vào hợp đồng tín dụng. Trường hợp đặc biệt, ngân hàng cho vay và khách hàng thỏa thuận về thời điểm thu lãi.
Đến thời điểm cuối cùng của thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng không trả được hết số nợ gốc hoặc nợ lãi thì ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ dư nợ gốc thực tế còn lại của hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng Cho vay theo hạn mức tín dụng là việc khách hàng và Ngân hàng thỏa thuận về một hạn mức tín dụng cụ thể, duy trì trong một thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanh số, doanh thu của khách hàng để trả nợ trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng. Phương thức này áp dụng đối với các khách hàng có sản xuất kinh doanh ổn định, có hiệu quả và có quan hệ thường xuyên, uy tín trong giao dịch thanh toán với Ngân hàng. Có nhu cầu vay vốn phát sinh thường xuyên, liên tục.
Sau khi hạn mức tín dụng đã được xác định cho khách hàng vay vốn, Ngân hàng có thể áp dụng một trong hai cách cho vay và thu nợ đó là cho vay theo hạn mức tín dụng thường xuyên( cho vay theo luân chuyển) và cho vay theo hạn mức tín dụng không thường xuyên( cho vay theo số dư).