LỜI MỞ ĐẦU Hệ thống NHTM đƣợc coi là “huyết mạch” của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống trung gian tín dụng. Nó là cầu nối giữa cung và cầu vốn trong xã hội, khơi nguồn vốn từ những ngƣời có vốn nhàn rỗi sang những ngƣời có nhu cầu sử dụng vốn để sinh lợi; Đảm bảo đƣợc sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế vì đáp ứng đƣợc nhu cầu vốn để duy trì liên tục quá trình tái sản xuất xã hội; Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhờ tận dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi vào quá trình cho vay sinh lời. Bởi vậy, hoạt động NH cần phải luôn thông suốt, hiệu quả và an toàn để duy trì sự vận hành trôi chảy các hoạt động trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Hoạt động của NH là hoạt động kinh doanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Trong đó, hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản tạo ra giá trị của các tổ chức tín dụng nói chung và của NH nói riêng. Đây là nghiệp vụ mang lại nguồn thu nhập lớn nhất cho NH, chiếm tới 80-90% tổng thu nhập của mỗi NH. Tuy nhiên, cùng với việc đem lại nguồn thu nhập thì đây cũng là hoạt động đem lại rủi ro lớn nhất - rủi ro tín dụng cho các NH hiện nay, nếu nghiêm trọng có thể dẫn tới phá sản và khủng hoảng toàn hệ thống, bởi lẽ các NH hiện nay không phải hoạt động riêng lẻ mà luôn có sự gắn kết với nhau. Đứng trƣớc những rủi ro, thách thức và sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt, đòi hỏi các NH ngày càng nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình, đặc biệt là nâng cao chất lƣợng tín dụng, giảm thiểu rủi ro cho đơn vị.
Việt Nam đang trong quá trình thực hiện Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nền kinh tế nên việc phát triển mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh là việc vô cùng cần thiết. Mà hầu hết các doanh nghiệp đều gặp khó khăn về tài chính, đặc biệt là các DNVVN. Với quy mô nhỏ và vừa của mình, các DNVVN hết sức lo ngại khi đứng trƣớc bối cảnh kinh tế hiện nay. Làm thế nào để trang bị cho mình nguồn lực tài chính vững chắc để vƣợt qua thời kỳ này để tiếp tục phát triển? Đây là lúc NH phát huy hết vai trò của mình.
Các NH cần tạo điều SVTH: Trần Thị Ngọc Diễm MSSV: 1154020166 c Luận Văn Tốt Nghiệp -2- GVHD: Th.S Châu Văn Thƣởng kiện thuận lợi nhất giúp các DNVVN, vì lợi ích của chính NH và vì sự tăng trƣởng kinh tế của nƣớc nhà. Do đó phát triển tín dụng là hết sức cần thiết. Chính vì vậy, vấn đề hiệu quả tín dụng đối với DNVVN đang là một vấn đề đƣợc mọi ngƣời trong và ngoài ngành quan tâm, giải quyết. Và đây cũng đang là đề tài của nhiều cuộc trao đổi, thảo luận tại các hội thảo, diễn đàn nghiên cứu.
Vì thế việc phân tích để tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNVVN là cần thiết và quan trọng. Nhận thức đƣợc vấn đề trên, với những kiến thức đã đƣợc học tập, nghiên cứu tại trƣờng và sau một thời gian thực tập tại NH TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – CN Khánh Hòa nên em đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NH EXIMBANK - CN Khánh Hòa”. Kết cấu nội dung gồm : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại NH Eximbank – CN Khánh Hòa Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại NH Eximbank – CN Khánh Hòa SVTH: Trần Thị Ngọc Diễm MSSV: 1154020166 c Luận Văn Tốt Nghiệp -3- GVHD: Th.S Châu Văn Thƣởng CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các vấn đề chung về tín dụng 1.1 Khái niệm tín dụng và tín dụng ngân hàng Tín dụng: Là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và đi vay. Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn.
Từ khái niệm trên ta có thể hiểu, tín dụng là quan hệ vay mƣợn giữa hai bên, một bên có nguồn vốn nhàn rỗi và một bên có nhu cầu về vốn dựa trên chữ “tín” - lòng tin. Nhƣng quan hệ vay mƣợn này chỉ mang tính chất tạm thời và luôn kèm theo một khoản phí gọi là lãi vay. Theo luật số 47/2010/QH12 của Quốc hội: Luật các tổ chức tín dụng, Khoản 14, Điều 4 có quy định: “ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Tín dụng ngân hàng: Trong các hình thức tín dụng, tín dụng NH đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Đối với doanh nghiệp, các cá nhân trong nền kinh tế, tín dụng NH cung cấp nguồn vốn đáng kể cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tƣ. Đối với bản thân NH, đây là hoạt động chính tạo ra thu nhập. Có thể nói, tín dụng NH ngày nay đóng vai trò then chốt và trở thành yếu tố không thể thiếu đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tín dụng NH là quan hệ vay mƣợn theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định giữa NH và các đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cƣ.
Trong hoạt động tín dụng, các NH vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay. Với tƣ cách là ngƣời đi vay, NH huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân bằng sản phẩm khác nhau nhƣ tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn,…Hoặc SVTH: Trần Thị Ngọc Diễm MSSV: 1154020166 c Luận Văn Tốt Nghiệp -4- GVHD: Th.S Châu Văn Thƣởng NH có thể huy động bằng hình thức khác nhƣ phát hành giấy tờ có giá, vay trên thị trƣờng tiền tệ,… Với tƣ cách là bên cho vay, NH sử dụng nguồn vốn huy động đƣợc cho các doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vay vốn thông qua nghiệp vụ cấp tín dụng. Trong giới hạn của đề tài này, ta chỉ xét hoạt động tín dụng của NH với vai trò là bên cho vay, chủ yếu là hoạt động cho vay khách hàng.2 Phân loại tín dụng Tín dụng ngân hàng (gọi tắt là tín dụng) có thể chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo các tiêu thức phân loại khác nhau. Dựa vào mục đích của tín dụng: Tín dụng sản xuất và lưu thông: Là loại hình cho vay mà KH sử dụng vốn vay chuyên để sản xuất ra sản phẩm và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Tín dụng tiêu dùng: Là loại cho vay mà KH sử dụng vốn vay chuyên để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân. Dựa vào thời hạn tín dụng: Cho vay ngắn hạn: Là cho KH vay với thời hạn dƣới 12 tháng. NH cho vay ngắn hạn nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn lƣu động của DN, nhu cầu tiêu dùng của KH cá nhân,… Cho vay trung và dài hạn: Thời hạn cho vay trên 12 tháng. NH cho vay trung và dài hạn nhằm tài trợ nhu cầu vốn cố định cho DN, tài trợ các dự án đầu tƣ và cho vay tiêu dùng cá nhân vào nhu cầu nhà ở, phƣơng tiện đi lại.
Dựa vào mức độ tín nhiệm: Cho vay có TSĐB: NH cho KH vay với điều kiện KH phải có tài sản làm đảm bảo dƣới các hình thức cầm cố, thế chấp hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Cho vay không có TSĐB: NH cho vay trên cơ sở KH không có bất kỳ loại tài sản nào làm đảm bảo, chỉ căn cứ vào mức độ tín nhiệm của NH đối với KH hoặc chỉ đạo của cấp có thẩm quyền để cho vay. Dựa vào phương thức cho vay: Cho vay theo món (cho vay từng lần): Là hình thức cấp tín dụng của NHTM mà theo đó, KH phải làm bộ hồ sơ vay cho một lần nhất định với mức tín dụng KH và NH thỏa thuận. Phƣơng thức cho vay từng lần đƣợc áp dụng khi cho vay để bổ sung nhu cầu vốn SVTH: Trần Thị Ngọc Diễm MSSV: 1154020166 c Luận Văn Tốt Nghiệp -5- GVHD: Th.S Châu Văn Thƣởng lƣu động thiếu hụt trong sản xuất, đối với những KH sản xuất kinh doanh không ổn định, nhu cầu vay trả không thƣờng xuyên, có nhu cầu đề nghị vay vốn từng lần hoặc những KH không có tín nhiệm cao đối với NH trong quan hệ tín dụng mà NH nhận thấy cần phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát, kiểm tra, quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ, an toàn.
Theo phƣơng thức cho vay này, nợ gốc và lãi thu cùng một thời điểm. Lãi tiền vay = Số tiền vay * Thời hạn vay *Lãi suất vay Cho vay theo hạn mức tín dụng (cho vay luân chuyển): là hình thức cấp tín dụng của NHTM mà theo đó, KH chỉ làm một bộ hồ sơ để vay trong một kỳ hạn nhất định với mức tín dụng mà KH và NH đã thỏa thuận. Áp dụng cho những doanh nghiệp có nhu cầu bổ sung vốn thƣờng xuyên, đều đặn, vòng quay vốn nhanh và đƣợc NH tín nhiệm. Cách xác định nhu cầu vốn lƣu động năm kế hoạch (KH): Nhu cầu vốn lưu động= Trong đó: Tổng chi phí dự toán năm KH = Tổng chi phí dự toán – Chi phí phi sản xuất Vòng quay vốn lưu động = Cách xác định HMTD HMTD = Nhu cầu vốn lưu động năm KH – Vốn lưu động ròng – Các khoản vay ngắn hạn khác – Các khoản vay các nhân và tổ chức kinh tế khác Trong đó: Vốn lưu động ròng = Giá trị tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn Cho vay theo định mức thấu chi: Là hình thức cấp tín dụng của NH cho KH bằng cách cho phép KH chi vƣợt một số tiền nhất định trong tài khoản tiền gửi thanh toán của KH, đáp ứng nhu cầu cần tiền nóng của KH, vì vậy lãi suất thƣờng cao và tính theo ngày.