Chương 1 TỔNG QUAN VẬT LIỆU KIM LOẠI Nội dung chương này được trình bày như sau: đầu tiên là tổng quan về đặc trưng cấu trúc và tính chất của vật liệu kim loại trạng thái vô định hình và lỏng. Sau đó là phương pháp chế tạo và ứng dụng của các vật liệu kim loại. Cuối cùng, chúng tôi trình bày các kết quả mô phỏng về kim loại Ni. Cấu trúc và tính chất vật liệu kim loại vô định hình Cấu trúc: Hình 1.1 mô tả thừa số cấu trúc (TSCT) của một số màng mỏng kim loại VĐH từ số liệu thực nghiệm của P.
Từ hình ảnh phổ trên hình 1.1 có thể thấy, vị trí và độ cao cực đại của TSCT đặt trong khoảng 29 đến 33 (nm-1) và từ 3,6 đến 4,2. Đỉnh thứ hai (cực đại thứ hai) trong TSCT bị tách thành hai đỉnh nhỏ, cụ thể là độ cao đỉnh nhỏ bên trái cao hơn độ cao đỉnh nhỏ bên phải. Thừa số cấu trúc a(K) của một số kim loại VĐH theo dữ liệu thực nghiệm của Leung P. [15] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn Tương tự đối với TSCT, HPBXT g(r) của kim loại VĐH, đỉnh thứ hai của cũng bị tách thành hai đỉnh nhỏ, độ cao đỉnh nhỏ bên trái cao hơn độ cao đỉnh nhỏ bên phải.
Hình dạng TSCT cũng như HPBXT của các kim loại có dạng khá giống nhau. Vị trí các cực đại trong HPBXT được liệt kê trong bảng 1.1 có thể thấy, các tỉ số ri/r1 (i = 2, 3, 4 và 5) đối với các kim loại VĐH khác nhau là bằng nhau. Vị trí và tỉ lệ độ cao các đỉnh trong HPBXT cặp, g(r) của một số kim loại VĐH công bố trong các công trình [1,2,6,15,20]. Kim loại r2/r1 r3/r1 r4/r1 r5/r1 Cr 1,66 1,91 2,49 3,36 Fe 1,67 1,96 2,51 3,38 Co 1,96 1,93 2,49 3,35 Ni 1,71 1,93 2,55 3,38 Tính chất: Như chúng ta biết, kim loại ở trạng thái VĐH có nhiều đặc điểm khác với trạng thái tinh thể.
Ở trạng thái tinh thể, số lượng tâm tán xạ tăng khi nồng độ khuyết tật tăng. Trái lại, với kim loại VĐH, tính tuần hoàn bị mất, nên mọi nguyên tử đều trở thành tâm tán xạ, do đó các tính chất dẫn điện, dẫn nhiệt và các hiệu ứng trong kim loại VĐH cũng bị thay đổi đáng kể. Các tính chất khác như lực kháng từ, tính chống ăn mòn, điện trở suất, độ bền cơ học, độ cứng của kim loại VĐH đều có giá trị cao hơn hẳn so với kim loại này khi ở trạng thái tinh thể. Cấu trúc và tính chất của kim loại lỏng Như đã biết, khi phân tích cường độ chùm tia tán xạ qua kim loại lỏng đơn nguyên tử người ta có thể xác định được đặc trưng cấu trúc của kim loại.2 cho thấy, TSCT của kim loại Ga ở nhiệt độ 323 K đến 333 K.
Nhận thấy đường cong TSCT của kim loại Ga lỏng thay đổi đáng kể khi nhiệt độ thay đổi từ 323 K đến 333 K. Cụ thể, độ cao đỉnh thứ nhất tăng từ 2,45 đến 2,75, hình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn dạng của đỉnh trồi ra sau cực đại chính là khá rõ ràng.3 cho thấy HPBXT ở trạng thái lỏng và VĐH của kim loại Fe là khác nhau đáng kể. Độ cao cực đại thứ nhất của HPBXT của Fe lỏng là 2,5 thấp hơn nhiều so với cực đại thứ nhất HPBXT của Fe VĐH là 3,20. Đối với Fe VĐH, cực đại thứ hai bị tách thành hai đỉnh nhỏ, độ cao đỉnh nhỏ bên trái cao hơn độ cao đỉnh nhỏ bên phải.
Trong khi đó, với Fe lỏng thì không xuất hiện sự tách đỉnh ở cực đại thứ hai. Kim loại lỏng không có trật tự xa trong phân bố nguyên tử như trong trạng thái tinh thể. Do vậy, kim loại lỏng thuộc nhóm vật liệu có cấu trúc không trật tự. Tuy nhiên trong giới hạn của mặt cầu phối vị thứ nhất thì phân bố nguyên tử trong kim loại lỏng cũng có một trật tự đặc trưng cho từng chất khác nhau và được gọi là trật tự gần.
Bởi vì kim loại lỏng có cấu trúc không trật tự nên kim loại lỏng có các tính chất rất khác thường về độ dẫn điện, từ tính và một số tính chất cơ học khác. Ví dụ, ở trạng thái lỏng các kim loại đất hiếm Eu, Er, Gd có độ dẫn điện thấp hơn đáng kể so với các kim loại khác. Giá trị điện trở suất của Er lớn hơn gấp mười lần so với giá trị điện trở suất của kim loại Cu. Nhìn chung, điện trở suất của kim loại lỏng lớn hơn rất nhiều so với kim loại tương ứng khi chúng ở trạng thái rắn [1].
Hệ số cấu trúc của Ga lỏng ở nhiệt độ khác nhau: a) Trường hợp 323 K, b) Trường hợp 333 K [3].vn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên Các kết quả thực nghiệm cho thấy TSCT của nhiều kim loại lỏng là rất giống nhau như có thể thấy trong bảng 1. Điều này có nghĩa là cấu trúc của kim loại lỏng nói chung là khá tương tự nhau. Nếu như dựng đồ thị của hệ số cấu trúc theo đơn vị K/K1, với phần lớn kim loại lỏng như Hg, Al, Pb, Fe và Co thì độ cao đỉnh đầu tiên gần như trùng khít và độ cao đỉnh thứ hai thì rất giống nhau. HPBXT của Fe lỏng và VĐH, đường 1 là Fe VĐH, đường 2 là Fe lỏng ở nhiệt độ 1560 K [9].
Khối lượng riêng và một số dữ liệu của hệ số cấu trúc a(K) của một số kim loại , trong đó K1 và K2 là vị trí đỉnh cao thứ nhất và thứ hai a(K) Đỉnh phụ, Kim loại T, 0C d, g/cm3 K1, nm-1 K2, nm-1 K2/K1 nm-1 Li 180 0,504 24,9 - 45,5 1,83 Na 105 0,928 20,3 - 37,5 1,85 Al 670 2,37 26,8 - 49,6 1,85 Ge 980 5,56 25,6 32,4 51,1 2,00 Pb 340 10,66 22,8 - 42,3 1,86 Fe 1550 7,01 29,8 - 54,6 1,83 Co 1550 7,70 30,2 - 56,0 1,85 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc. Mô phỏng cấu trúc và tính chất động học trong kim loại Ni Trong mục này, chúng tôi trình bày chi tiết một số kết quả mô phỏng ĐLHPT về cấu trúc, các tính chất động học trên trong kim loại Ni thông qua một số công trình đã được công bố, cụ thể như sau: Zhang Yanning và các cộng sự [21] đã nghiên cứu tính chất nhiệt động học, động học và sự hồi phục cấu trúc trong Ni ở trạng thái thủy tinh và trạng thái siêu lỏng dưới nhiệt độ tới hạn bằng phương pháp mô phỏng ĐLHPT dựa trên thế tương tác nhúng với mẫu 4000 nguyên tử. Họ đã sử dụng các phương pháp: (1) Phân tích cấu trúc thông qua hàm tương quan cặp; (2) Xác định ranh giới giữa vùng siêu lỏng và vùng vô định hình thông qua tham số Wendt- Abraham; (3) Sử dụng các chỉ số Honeycutt- Anderson (HA) index; (4) Sử dụng các hàm tương quan thời gian. Kết quả mô phỏng của Zhang Yanning và các cộng sự chỉ ra rằng, nhiệt độ chuyển thủy tinh của Ni là Tg = 800 K và nhiệt độ tới hạn được xác định bằng 840 K, ở đây tốc độ làm lạnh 2,86×1013 K/s.
Họ phát hiện ra ba vùng đặc biệt trong suốt quá trình hồi phục với các tính chất nhiệt động, động học và cấu trúc rất khác biệt. Trong vùng nhiệt độ 840 K- 1000 K sự tinh thể trong trạng thái siêu lỏng xảy ra với thời giản ủ nhiệt là τ; ở trong vùng nhiệt độ thấp hơn 810 K- 840 K, giá trị nội năng cao hơn đáng kể trong thời gian ủ dài và trạng thái cuối cùng của hệ được đặc trưng bởi cấu trúc khá phức tạp, kết quả này được cho là do tồn tại sự pha trộn giữa các phần tinh thể và thủy tinh. Trong khi đó, khi nhiệt độ dưới 810 K, sự tinh thể hóa của thủy tinh Ni tăng và thời gian τ kéo dài nhanh chóng với sự giảm nhiệt độ. Tác giả và cộng sự chỉ ra rằng dáng điệu động học xảy ra trong vùng tinh thể trong trạng thái siêu lỏng có thể so sánh với vùng tinh thể hóa của thủy tinh nhận được và nó được đặc trưng bởi sự xuất hiện khửu (đường nằm ngang) thứ hai trong dịch chuyển bình phương trung bình (DCBPTB) và đường ngang (khửu) không bằng không của thừa số không Gauss (TSKG) với thời gian ủ lớn.
Điều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn này có nghĩa là, quá trình tinh thể từ trạng thái siêu lỏng hoặc thủy tinh thông qua sự mầm hóa của các nhân tinh thể. Sự hồi phục ở nhiệt độ gần Tg chịu ảnh hưởng rất phức tạp theo sự biến đổi động học. Sự hồi phục nhiệt động học và động học kéo theo sự sắp xếp lại cấu trúc nguyên tử. Cặp liên kết 1551 đặc trưng đối xứng 5 địa phương giảm trong quá trình hồi phục; tương ứng, cặp liên kết 1421 mô tả trật tự cấu trúc tăng.
Thời gian ủ có thể được xác định khi số các cặp liên kết thay đổi hình dạng mạnh, trong khi “vùng phức tạp” chỉ biến đổi nhỏ trong cấu trúc hệ được tìm thấy. Bằng phương pháp mô phỏng, L.Wang và cộng sự [19] cho thấy mối liên hệ giữa sự mầm hóa đến cấu trúc và động học không đồng nhất trong kim loại Ni trạng thái siêu lạnh. Tính chất động học và cấu trúc không đồng nhất trong Ni trạng thái siêu lạnh đã được xác định với mô phỏng ĐLHPT với thế tương tác nhiều hạt (thế nhúng- EAM). Đặc trưng về thời gian hồi phục đã được đánh giá bởi các hàm tương quan thời gian, DCBPTB và TSKG.
Họ đã phát hiện, sau khi trải qua đường ngang ra đầu tiên, đường cong DCBPTB cho thấy đường ngang thứ hai xuất hiện tại nhiệt độ 1090 K. Ở khoảng thời gian đầu sự hồi phục cấu trúc, phôi xuất hiện bởi sự sắp xếp lại do khuếch tán của các nguyên tử. Khi thời gian tăng, mầm tinh thể được tạo thành trong trạng thái lỏng và chúng lớn dần bởi chuyển động tập thể của các nguyên tử để tạo thành các đám lớn, kết quả này nhận được dựa trên đặc trưng của sự xuất hiện điểm ngang khác không trong đường cong TSKG và hàm tương quan thời gian. Ở thời gian ủ dài hơn, đám tinh thể lớn với hướng tinh thể khác nhau liên kết với nhau, sau đó tinh thể tạo thành.
Sử dụng phương pháp phân tích cặp và phương pháp kiểm tra trực quan L.Wang và cộng sự đã phân tích quá trình mầm trong Ni trạng thái siêu lỏng.