CHƯƠNG 1: Giới thiệu. CHƯƠNG 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về kiệt quệ tài chính. CHƯƠNG 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp. CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu của mô hình hồi quy Binary Logistic.
CHƯƠNG 5: Các giải pháp nâng cao khả năng dự báo và giải quyết một cách hiệu quả tình trạng khánh kiệt tài chính ở Việt Nam. 3 c Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH VÀ PHÁ SẢN 2. Các nghiên cứu trước đây: - Opler và Titman (1994) cho thấy rằng các công ty kiệt quệ tài chính (đòn bẩy cao) bị mất thị phần đáng kể vào đối thủ m ạnh trong thời kỳ suy thoái của ngành. Sự sụt giảm doanh số bán hàng mà Apple và Chrysler phải đối mặt trong thời kỳ khó khăn tài chính sẽ cho ta bằng chứng về những thiệt hại nặng nề như vậy.
- Trong một mẫu của 3 1 giao dịch có đòn bẩy cao (HLTs), Andrade và Kaplan (1998) minh họa ảnh hưởng của kiệt quệ kinh tế bắt nguồn từ kiệt quệ tài chính và ước tính chi phí kiệt quệ tài chính khoảng 10-20% giá trị công ty. - Asquith, Gertner và Scharfstein (1994 ) cho rằng trung bình các công ty kiệt quệ về tài chính bán 12% tài sản của họ như một phần trong nhữ ng kế hoạch tái cấu của họ. - Chevalier (1995a,b) sử dụng thông tin chi tiết từ các ngành siêu th ị địa phương để cung cấp bằng chứ ng để hỗ trợ cho hành vi thâu tóm trên thị trư ờng. Bà cho rằng t iếp theo sau hành động mua và sáp nhập các siêu thị bằng vốn vay (LBOs), giá sẽ giảm tại các thị trư ờng địa phương nơi m à các công ty đối thủ có đòn bẩy thấp và tập trung.
Hơn nữa, sự giảm giá này liên quan đến việc các công ty LBO thoát khỏi thị trư ờng địa phương. Những phát hiện này cho thấy rằng các đối thủ nỗ lực để săn mồi trên dây chuyền LBO. - Bằng việc sử dụng các bãi bỏ quy định của ngành vận t ải đường bộ như là một cú sốc ngoại sinh, Zingales (1998 ) nghiên cứ u sự tương tác giữ a cấu trúc tài chính và sự cạnh tranh ở thị trường sản phẩm và cho thấy rằng đòn bẩy làm giảm khả năng sống sót của công ty sau khi có sự gia tăng trong cạnh tranh. Thông điệp chung từ các bài nghiên cứu trên là kiệt quệ tài chính có thể phát sinh chi phí thực tế tại công ty bằng việc suy yếu vị thế cạnh tranh của họ trên thị trường sản phẩm 4 c 2.
Phân tích các chỉ số truyền thống: Sự nhận biết hoạt động của doanh nghiệp và những khó khăn chính là một chủ đề có thể được giải quyết cụ thể khi phân tích các chỉ số tài chính. Trước khí phát triển các thước đo định lượng hoạt động của doanh nghiệp, một số tổ chức đã thiết lập để cung cấp các mô hình định tính các thông tin mà đánh giá tình trạng tín dụng của các thương gia cụ thể. Chẳng hạn, tiền thân của Hãng dịch vụ thông tin quốc tế Dun & Bradstreet nổi tiếng ngày nay, được thành lập năm 1849 chuyên cung cấp các điều tra tín dụng độc lập, tập hơp các nghiên cứu chính thức liên quan đến dự báo thất bại doanh nghiệp được thực hiện trong những thập niên 1930. Bên cạnh đó GGSaver 1967 là tác phẩm kinh điển trong lĩnh vực phân tích các chỉ số và phá sản, các mô hình này đã thiết lập trên nền móng các nỗ lực sử dụng kỹ thuật đa biến cho các tác giả khác đi theo.
Mô hình Z-Score của Altman cũng đã sử dụng kỹ thuật phân tích đa biến này. Một nghiên cứu tiếp theo của Deakin (1972) đã sử dụng 14 biến như GGSaver đã phân tích, nhưng Deakin đã áp dụng những biến này trong một loạt các phân tích đa biệt thức. Những nghiên cứu trên đã ngầm chỉ ra một khả năng nhất định của các chỉ số như các công cụ dự báo phá sản. Nhìn chung, các chỉ số đo lường khả năng sinh lời (profitability), khả năng thanh khoản (liquidity), và khả năng toán (solvency) được thừa nhận như những chỉ báo quan trọng.
Mô hình Z’Score: Mô hình Z-score là mô hình được công nhận và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Chỉ số này được phát minh bởi Giáo sư Edward I. Khi nghiên cứu thiết lập mô hình Z- Score, Altman đă thực hiện các bước như sau: 2. Bước 1: Sự chọn mẫu Mẫu ban đầu bao gồm 66 công ty với 33 công ty ở mỗi nhóm.
Nhóm phá sản (kiệt quệ) (nhóm 1) là những nhà sản xuất đã nộp đơn phá sản theo chương 10 của Luật Phá Sản Hoa Kỳ trong giai đoạn 1946 đến 1965. Nhóm hai bao gồm một mẫu ghép đôi của các doanh nghiệp sản xuất được chọn từ cơ sở phân loại ngẫu nhiên. Các công ty được phân lớp bởi ngành và kích cỡ doanh nghiệp, với phạm vi tài sản được giới hạn nghiêm ngặt từ 1 5 c triệu USD đến 25 triệu USD. Giá trị tài sản trung bình của các công ty trong nhóm 2 (9.6 triệu USD) lớn hơn một ít so với nhóm 1, nhưng để hai nhóm có kích cỡ tài sản như nhau là điều dường như không cần thiết.
Các công ty trong nhóm 2 vẫn còn hoạt động trong thời gian phân tích. Dữ liệu đuợc xây dựng từ Sổ Tay Ngành của tổ chức Moody và từ các báo cáo được chọn lọc hằng năm. Quyết định loại bỏ các công ty nhỏ (tài sản dưới 1 triệu USD) và các công ty rất lớn ra khỏi mẫu là cần thiết cho phạm vi tài sản các công ty trong nhóm 1. Những chỉ trích thường thấy là đối với các chỉ số tài chính, về bản chất, số liệu thống kê cho thấy chúng chịu sự ảnh hưởng của yếu tố kích cỡ doanh nghiệp, và do đó nên loại bỏ tác động của yếu tố này trong phân tích.
Mô hình Z-Score xuất hiện có thể đáp ứng được nhu cầu này. Bước 2: Lựa chọn biến: Sau khi hình thành được khái niệm nhóm và chọn được công ty, chọn danh sách gồm 22 chỉ số, 5 chỉ số đã được chọn vì chúng đã thể hiện tốt nhất trong việc liên kết dự đốn phá sản công ty. Các chỉ số này không bao gồm tất cả các biến số quan trọng nhất được đo lường một cách độc lập. Để đạt được tập hợp các biến số cuối cùng, các thủ tục sau đã được sử dụng: (1) quan sát mức ý nghĩa thống kê của các chức năng thay thế khác nhau, bao gồm việc xác định phần đóng góp tương đối của các biến số độc lập; (2) đánh giá sự tương quan giữa các biến số có liên quan; (3) quan sát độ chính xác về mặt dự báo của các tập hợp biến; và (4) đánh giá của các chuyên gia.
Biệt thức cuối cùng đuợc thể hiện như sau: Z 0.999 X 5 Trong đó: X1= working capital/total assets = Vốn lưu động/ Tổng tài sản, X2= Retained earning/ total assets = Lợi nhuận giữ lại/ Tổng tài sản X3= Eanring GGSfore tax and interest/ total assets = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/ Tổng tài sản, X4= Market value equity/ book value of total liabilities = Giá trị thị trường của vốn CSH/ giá trị sổ sách của nợ phải trả, 6 c X5= Sales/total assets = Tổng doanh thu/ Tổng tài sản, và Z= overall index = chỉ số tổng hợp Chú ý rằng, mô hình không có một hằng số nào (số giới hạn). Đó bởi vì các phần mềm cụ thể được sử dụng, và kết quả là, điểm số giới hạn tương ứng giữa hai nhóm không phải là 0. Phần mềm khác, như SAS và SPSS, có một hằng số, mà nó chuẩn hĩa điểm giới hạn ở 0 nếu số mẫu của hai nhóm là bằng nhau. Bước 3: Giải thích biến số: X1, working capital/total assets (WC/TA) = Vốn lưu động/ Tổng tài sản Chỉ số working capital/ total assets, thường được tìm thấy trong các nghiên cứu về các trục trặc DN, là một công cụ đo lường độ thanh khoản ròng của các tài sản của công ty tương ứng với tổng vốn.
Working capital được định nghĩa như là sự khác nhau giữa current assets – tài sản lưu động và current liabilities- nợ ngắn hạn. Tính thanh khoản và đặc điểm về kích thước được cân nhắc rõ nét. Thông thường, một công ty trải qua một thời kỳ lỗ hoạt động kéo dài sẽ có tài sản lưu động bị co lại so với tổng tài sản. Trong ba chỉ số thanh khoản được đánh giá, chỉ số này tỏ ra là chỉ số đáng giá nhất.
Hai chỉ số thanh khoản khác được kiểm tra là current ratio- chỉ số thanh tốn hiện hành và quick ratio – chỉ số thanh tốn tức thời. Chúng xem ra kém hữu ích và phụ thuộc vào khuynh hướng bảo thủ của một vài công ty thất bại. X2, retained earnings/total assets (RE/TA) = Lợi nhuận giữ lại/ Tổng tài sản Lợi nhuận giữ lại thể hiện tổng số thu nhập được tái đầu tư hay mức lỗ của một doanh nghiệp trong suốt thời gian tồn tại của nó. Chỉ số này cũng được xem như là thặng dư kiếm được từ quá trình hoạt động.
Điều đáng chú ý là chỉ số này phụ thuộc vào sự vận động thông qua tái cấu trúc và tuyên bố chia cổ tức, vốn không phải là đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu này, có thể hiểu rằng một xu hướng sẽ được hình thành thông qua tái tổ chức, hoặc chính sách chia cổ tức hoặc những điều chỉnh phù hợp trong các tài khoản kế tốn. Một khía cạnh mới thú vị về chỉ số lợi nhuận giữ lại là khả năng đo lường lợi nhuận tích lũy theo thời gian. Thời gian hoạt động ngắn hay dài của một công ty được cân nhắc 7 c hồn tồn ở chỉ số này. Ví dụ, các công ty trẻ thường thể hiện một chỉ số RE/TA thấp bởi vì nó chưa có thời gian để tích lũy lợi nhuận.
Vì vậy, có thể lập luận là các công ty trẻ ở một mức độ nào đó bị phân biệt đối xử trong phân tích này, và khả năng các công ty này đuợc xếp vào nhóm phá sản là cao hơn một cách tương đối so với các công ty có thời gian hoạt động nhiều hơn. Nhưng đó là điều chính xác trong thế giới thực. Các công ty dễ bị phá sản ở những năm đầu hoạt động. Trong năm 1993, khoảng 50% số các công ty bị phá sản trong từ một đến 5 năm đầu hoạt động (Dun & Bradstreet, 1994).
Thêm vào đó, chỉ số RE/TA đo lường đòn bẩy của một doanh nghiệp.