Chương 1: Lý luận về mặt chủ quan của tội phạm. Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về mặt chủ quan của tội phạm. Chương 3: Phương hướng hoàn thiện các quy định về mặt chủ quan của tội phạm. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM 1.
KHÁI NIỆM CẤU THÀNH TỘI PHẠM VÀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM 1. Khái niệm cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là khái niệm được xuất hiện đầu tiên vào thế kỷ XVI ở Đức và sau này ngày càng được phát triển sâu rộng về cả mặt lý luận và thực tiễn áp dụng vào pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Cấu thành tội phạm được coi là khái niệm pháp lý của loại tội phạm cụ thể, là sự mô tả khái quát loại tội phạm nhất định trong luật hình sự. Tuy vậy, hiện nay trong khoa học luật hình sự vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này và việc vận dụng khái niệm này vào trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia cũng khác nhau.
Trong quá trình hình thành và phát triển của quy phạm pháp luật hình sự thực định của Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay đến trước pháp điển hóa pháp luật hình sự lần thứ 2 năm 1999 trong luật về mặt thuật ngữ “cấu thành tội phạm” đã được ghi nhận tại khoản 2 Điều 89 Bộ luật TTHS năm 1988 và tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật TTHS năm 2003 được coi là một trong bảy căn cứ mà nếu thiếu nó thì không được khởi tố vụ án hình sự. Trong luật nội dung - luật hình sự thì thuật ngữ cấu thành tội phạm với nội dung đầy đủ của nó chưa bao giờ được sử dụng trong pháp luật hình sự đã và đang hiện hành của nước ta. Trong BLHS năm 1999 hiện hành lần đầu tiên thuật ngữ “cấu thành tội phạm” được quy định tại Điều 19 BLHS về tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm “…nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác…”.[22,334] 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cấu thành tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng của luật hình sự và là vấn đề lý luận có ý nghĩa trong lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự. Về bản chất, tội phạm là hiện tượng xã hội có tính giai cấp, tính lịch sử, được đặc trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật của hành vi.
Về mặt cấu trúc, tội phạm được hợp thành bởi những yếu tố nhất định tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể phân chia được trong tư duy. Những yếu tố đó là mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, khách thể của tội phạm và chủ thể của tội phạm. Bất cứ hành vi phạm tội nào, không phụ thuộc vào mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội đều là một thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan, giữa biểu hiện bên ngoài và biểu hiện tâm lý bên trong, tất cả đều là hoạt động của con người cụ thể xâm hại hoặc nhằm xâm hại quan hệ xã hội nhất định. Sự thống nhất của bốn yếu tố này là hình thức cấu trúc thể hiện nội dung chính trị, xã hội của tội phạm.
Nếu về mặt nội dung chính trị - xã hội các hành vi phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì về mặt hình thức cấu trúc bốn yếu tố cấu thành tội phạm có những nội dung thể hiện khác nhau. Chính sự khác nhau này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Hành vi phạm tội của một loại tội phạm cụ thể trong mỗi trường hợp thực tế tuy có những điểm khác nhau ở các yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đều có những nội dung biểu hiện gần giống nhau có tính đặc trưng và quyết định tính nguy hiểm của loại tội phạm đó. Khái quát hóa những nội dung biểu hiện giống nhau của bốn yếu tố của mỗi loại tội phạm qua các dấu hiệu đặc trưng để mô tả tội phạm và sự mô tả này trong luật là phương thức quy định tội phạm trong luật hình sự.
Khái niệm cấu thành tội phạm trong luật hình sự được dùng để chỉ sự mô tả này. Cấu thành tội phạm là bộ phận của quy phạm pháp luật hình sự, trong đó xác định nghĩa vụ không được làm hoặc nghĩa vụ phải làm một công việc 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của công dân để không gây ra thiệt hại cho xã hội nói chung cũng như công dân nói riêng. Quy phạm pháp luật hình sự còn có bộ phận khác là chế tài, trong đó quy định khung hình phạt cho phép áp dụng đối với người thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Cấu thành tội phạm cũng không đồng nhất với phần quy định của điều luật về tội phạm trong Phần riêng của Bộ luật hình sự.
Phần quy định của điều luật Phần riêng của BLHS chỉ là bộ phận chính của cấu thành tội phạm. Bộ phận còn lại là nội dung được quy định chung trong các điều luật Phần chung của BLHS. Ví dụ cấu thành tội phạm giết người không chỉ bao gồm phần quy định của Điều 93 BLHS 1999 mà còn bao gồm cả các quy định thuộc phần chung của BLHS về lỗi, về chủ thể, về độ tuổi, …Như vậy, có sự khác nhau giữa điều luật với quy phạm pháp luật và cấu thành tội phạm. Ba khái niệm này không đồng nhất với nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau.
Với tính chất là khái niệm pháp lý về hình thức cấu trúc và phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của một loại tội phạm, cấu thành tội phạm trong luật hình sự được coi là cơ sở pháp lý và sự thỏa mãn cấu thành tội phạm là điều kiện cần và đủ của trách nhiệm hình sự. Việc xác định một người có tội hay không? và nếu phạm tội thì phạm tội gì? chính là quá trình xác định hành vi của họ có thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm hay không. Một hành vi khi đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm thì có nghĩa về mặt nội dung có tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm mà cấu thành tội phạm nó thỏa mãn phản ánh và về mặt hình thức có tính trái pháp luật hình sự. Như vậy, có sự đồng nhất giữa tính trái pháp luật hình sự và sự thỏa mãn cấu thành tội phạm.
Có cách hiểu khác cho rằng sự thỏa mãn cấu thành tội phạm không đồng nhất với tính trái pháp luật hình sự của hành vi. Theo đó thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm vẫn có thể không có tính trái pháp luật hình sự. Ví dụ: Hành vi thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội giết người không có 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính trái pháp luật hình sự trong trường hợp thỏa mãn dấu hiệu của chế định phòng vệ chính đáng, tình thể cấp thiết……[45,10]. Quy phạm pháp luật hình sự là quy phạm cấm đoán, cấm công dân làm hoặc không làm một việc nhất định.
Ví dụ: Cấm giết người, cấm gây thương tích cho người khác, …; cấm không tố giác tội phạm tức yêu cầu phải tố giác tội phạm. Về nguyên tắc công dân không được phép có xử sự bị Pháp luật hình sự cấm, tuy nhiên trong trường hợp nhất định họ vẫn có thể được luật hình sự cho phép thực hiện xử sự bị cấm đó. Những trường hợp này được quy định trong chế định “các tình tiết loại trừ tính trái pháp luật của hành vi” hay “các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi”: Phòng vệ chính đáng, sự hiện bất ngờ, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự nhưng chưa đủ tuổi chịu TNHS, gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự,…Khi thỏa mãn tình tiết này thì việc thực hiện hành vi bị cấm được coi là hợp pháp. Tình tiết này có thể được gọi ngắn gọn là “có căn cứ hợp pháp” hay “tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi”.
Việc hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm không thuộc trường hợp “có căn cứ hợp pháp” hay “có tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi” cũng có nghĩa hành vi có tính trái pháp luật hình sự, tức là trong cấu thành tội phạm có dấu hiệu này thì hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm vẫn không trái pháp luật hình sự. Khái niệm mặt chủ quan của tội phạm Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì con người là tổng hòa các quan hệ xã hội, các quan hệ xã hội của con người được biểu 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện thông qua hành vi. Hành vi của con người bao giờ cũng là sự thống nhất giữa những biểu hiện cụ thể bên ngoài thế giới khách quan và những nội dung tâm lý bên trong. Tội phạm cũng được biểu hiện bởi hành vi, do đó nó cũng là sự thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan.
Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là những hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội. Mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại một cách độc lập mà luôn luôn gắn liền với mặt khách quan của tội phạm. Hoạt động tâm lý bên trong của tội phạm luôn gắn liền với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm. Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi là tội phạm nếu hành vi đó được thực hiện trong một thái độ tâm lý nhất định của con người đối với hành vi đó và hậu quả do hành vi đó gây ra hay đối với khả năng phát sinh hậu quả từ hành vi đó.
Do vậy, nếu thiếu mặt chủ quan của tội phạm hành vi sẽ không cấu thành tội phạm. Hành vi vi phạm pháp luật dù được thể hiện gây ra thiệt hại nhưng không có sự thống nhất với mặt chủ quan của người gây thiệt hại sẽ không phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm hình sự nói riêng. Con người tồn tại trong thế giới bị chi phối bởi những quy luật khách quan và hoạt động của con người bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể.