Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HOÁ CÔNG CHỨNG 1. Xã hội hóa công chứng 1. Khái niệm xã hội hoá công chứng Nhà nước luôn luôn mang cả tính giai cấp và tính xã hội. Nhà nước chỉ sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai cấp và bao giờ cũng thể hiện tính giai cấp sâu sắc.
Tính giai cấp đó thể hiện ở chỗ nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt trong tay giai cấp cầm quyền, là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp. Nhưng bên cạnh đó, nhà nước cũng thể hiện tính xã hội. Nhà nước tổ chức đời sống xã hội, phục vụ xã hội, chăm lo cho cộng đồng. Các nhà nước trong lịch sử khác nhau ở chỗ nhà nước này thể hiện tính giai cấp rõ rệt trong khi đó nhà nước khác lại thể hiện rõ tính xã hội.
Đó là do nhà nước đó thực hiện sứ mệnh nào nhiều hơn trong hai sứ mệnh: thống trị giai cấp hay tổ chức đời sống cộng đồng. Những nhà nước dân chủ, tiến bộ đều chú trọng đến việc tổ chức đời sống cộng đồng nhiều hơn. Ngoài chức năng quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, nhà nước còn có chức năng cung ứng dịch vụ công cho xã hội. Nhà nước thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ công nhằm phục vụ các lợi ích thiết yếu, các quyển cơ bản của các tổ chức, công dân.
Trước đây, nhiều nhà nước chỉ chú trọng đến chức năng cai trị, kể cả khi tiến hành cung cấp hàng hoá, dịch vụ thiết yếu cho xã hội cũng theo cung cách cai trị, cung ứng dịch vụ công dưới hình thức xin - cho. Chức năng phục vụ xã hội chỉ được tách riêng và có vị trí tương ứng với chức năng cai trị khi điều kiện kinh tế-xã hội phát triển, nhất là khi xu hướng dân chủ hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Nhà nước không còn là một quyền lực đứng trên nhân dân để cai tri nhân dân nữa, mà có trách nhiệm phục vụ nhân dân qua việc cung ứng dịch vụ công. “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay uỷ quyền cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm dam bảo trật tự, lợi ích chung và công bằng xã hội”.
[27 - tr 452] Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế xã hội, đời sống được nâng cao, dân số ngày càng tăng lên thì phạm vi của các hoạt động dịch vụ công ngày càng mở rộng. Chất lượng, số lượng dịch vụ công ngày càng được xã hội đòi hỏi cao hơn, nhiều hơn trên quy mô rộng lớn hơn. Những yêu cầu trên nằm ngoài khả năng đáp ứng của bộ máy nhà nước cũng như của ngân sách nhà nước. Vì vậy, nhà nước phải huy động nguồn lực to lớn của xã hội tham gia vào việc cung ứng những dịch vụ công này.
Việc huy động này vừa giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, vừa tăng tính cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng. Đây chính là việc nhà nước chuyển giao cho khu vực ngoài nhà nước đảm nhiệm một số chức năng của nhà nước. “XG hội hoá là quá trình huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân và các tổ chức vào hoạt động cung ứng dịch vụ công cộng trên cơ sở phát huy tinh sáng tao va khả năng đóng góp của mỗi người”. [32 - tr 54] Xã hội hoá cũng có thể được hiểu là: “Quá trình chuyển hoá, tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới của một số lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội, trên cơ sở cộng đông trách nhiệm nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế xã hội của đất nước” [28- tr 106] Tại nhiều nước trên thế giới, việc xã hội hoá dịch vụ công đã trở thành một xu hướng tất yếu.
Phạm vi các dịch vụ công được xã hội hoá ngày càng mở rộng. Hầu hết các quốc gia áp dụng nguyên tắc “cái gì các chủ thể kinh tế khác có thể làm được thì nhà nước không tham gia”. Trong trường hợp này, nhà nước chỉ đóng vai trò kiểm soát, điều tiết, bảo hộ để các chủ thể khác thực hiện các dịch vụ đó một cách thuận lợi. 10 Tại Việt Nam, xã hội hoá là một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới.
Nhà nước ta đã thực hiện chủ trương mở rộng phạm vi xã hội hoá, thực hiện xã hội hoá y tế, giáo dục, khoa học, văn hoá, giao thông vận tải và gần đây là xã hội hoá công chứng. Vậy công chứng là gì? Khái niệm này đã được nêu trong Điều 2 Luật công chứng như sau: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Điều 6 Luật công chứng quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng như sau: “1. Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thoả thuận khác.
Văn ban công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng mình, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu”. Hai điều luật trên cho thấy công chứng là hoạt động vừa mang tính công quyển vừa mang tính dịch vụ. Tính công quyền thể hiện ở chỗ: công chứng viên thay mặt nhà nước chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, đem lại cho văn bản công chứng giá trị pháp lý đặc biệt: đó là giá trị thi hành và giá trị chứng cứ. “Văn bản công chứng có giá trị pháp lý cao hơn han những loại chứng cứ khác, bởi nó mang dấu ấn của quyền lực của công quyền và được đảm bảo bằng trách nhiệm đặc biệt của công chứng viên - là một công chức do nhà nước bổ nhiệm để thực hiện chức năng công chứng”.
[46 — tr18] II Tính dịch vụ thể hiện ở chỗ: bằng hành vi công chứng, công chứng viên đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa tranh chấp có thể xảy ra giữa các bên. Điều đó cũng có nghĩa là công chứng viên đã cung cấp một dịch vụ về an toàn pháp lý cho công dân, tổ chức khi tham gia giao dịch. Đây là biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp, việc công chứng viên soạn thảo văn bản công chứng theo yêu cầu của các bên giao dịch cũng là một biểu hiện rõ nét của tính dịch vụ.
Ngoài ra, khi xem xét bản chất của công chứng theo quan điểm lịch sử, chúng ta sẽ thấy công chứng thực sự là loại hình dịch vụ mang tính chất công. Công chứng từ gốc Latinh là “Notarius”, nghĩa là người ghi chép, người làm chứng. Xét về nguồn gốc, nghề công chứng đã xuất hiện từ thời La Mã cổ đại. Các tài liệu nghiên cứu về công chứng cho thấy từ trước đến nay có ba hệ thống công chứng trên thế giới: - Hệ thống công chứng La tinh tương ứng với hệ thống pháp luật lục địa châu Âu - Civil Law mà điển hình là các nước Pháp, Đức.
- Hệ thống công chứng Anglo-Saxon tương ứng với hệ thống pháp luật Common Law mà điển hình là các nước Anh, Mỹ. - Hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng nhà nước) tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa mà điển hình là các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Trong đó, hai hệ thống công chứng La tinh và Anglo-Saxon có lịch sử rất lâu đời, công chứng xuất hiện ở Pháp năm 1270, ở Anh năm 1279. Vào khoảng thế ky XII —XIII ở một số nước chau Au, các giao dịch bất động sản phát triển mạnh mẽ.
Từ đó đã làm nảy sinh nhu cầu soạn thao hợp đồng rõ ràng, chặt chế và phù hợp với pháp luật. Nhu cầu đó được đáp ứng bởi các Notaire — một nhóm người chuyên soạn thảo các văn bản hợp đồng theo yêu cầu. Thời 12 kỳ đầu hoạt động của các Notaire chỉ đơn thuần là một dịch vụ xã hội. Về sau, do nhận thấy các hợp đồng nêu trên có tính ưu việt đặc biệt là tính làm chứng của các Notaire khi có tranh chấp, nhà nước đã khuyến khích và công nhận giá trị pháp lý, giá trị chứng cứ trong tố tụng của các hợp đồng đó.
Nhà nước đã tiến tới công nhận địa vị của các Notaire, khiến cho việc làm chứng của họ có tính chất quyền lực công của nhà nước. Vì vậy, tuy các Notaire không phải là công chức nhà nước và hành nghề tự do nhưng các văn bản của họ được nhà nước công nhận có giá trị là một công chứng thư, có giá trị chứng cứ trước Tòa án. Như vậy có thể thấy hoat động công chứng theo hệ thống La tinh như là một loại dich vụ có dấu ấn quyền lực công. [7 — tr 2] Từ trích dẫn nêu trên ta thấy được chế định về công chứng bắt nguồn từ đòi hỏi khách quan của xã hội cần có dịch vụ làm chứng chuyên nghiệp, đáng tin cậy và có giá trị pháp lý cao.
Công chứng về bản chất chính là một hoạt động dịch vụ công. Trong ba hệ thống công chứng trên thế giới như đã nêu trên, hai hệ thống công chứng La tinh và hệ thống công chứng Anglo-Saxon đều coi công chứng là một nghề tự do, công chứng viên do nhà nước bổ nhiệm hoặc công nhận theo các điều kiện, tiêu chuẩn luật định và được cấp chứng chỉ hành nghề. Công chứng viên hoạt động độc lập và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Khái niệm xã hội hóa công chứng chỉ áp dụng ở những nước theo hệ thống công chứng Collectiviste, tổ chức công chứng theo mô hình công chứng nhà nước và đang trong quá trình cải cách theo mô hình công chứng tự do.
Ở hệ thống này, công chứng chưa được coi là một nghề, việc công chứng giao cả cho các chủ thể không phải là công chứng viên. Công chứng là hoạt động của nhà nước, do nhà nước trực tiếp thực hiện.