CHƯƠNG 1 NHUNG VAN ĐỀ CHUNG VE THẤM QUYỀN XU LÝ VI PHAM HANH CHÍNH Để nghiên cứu thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính không thể không làm rõ những khái niệm có liên quan trực tiếp. Vì vậy, trong chương này chúng tôi tập trung phân tích các khái niệm: Vị phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính. xử phạt hành chính bên cạnh việc phân tích các khái niệm thầm quyền. thâm quyền xử lý vi phạm hành chính dat cơ sở nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu ở các chương sau.
VI PHAM HANH CHÍNH Ban chat của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn được xác định, đó là: “Nhà nước của nhân dan, do nhân dan, vì nhân dân”. pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chiếm đại đa số trong xã hội. Vì vậy, các quy định pháp luật luôn được đông đảo nhân dân tôn trọng thực hiện. Song, trên thực tế vẫn có những hiện tượng đi ngược lại, phá vỡ trật tự quản lý nhà nước, xâm hại đến lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân.
Tat cả những hiện tượng trên được xác định là: Vi phạm pháp luật. Do vậy cần phải đưa ra khái niệm vị phạm pháp luật một cách khoa học, điều đó không chỉ có ý nghĩa lý luận mà có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đây chính là cơ sở, nền tang để xác định các hành vi vi phạm pháp luật cụ thể, cũng là căn cứ quan trọng để nhà nước có thể truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân hay tổ chức. Có nhiều quan điểm khác nhau về vi phạm pháp luật, cé quan niệm cho rằng: “Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật xã hội chủ nghĩa bảo vệ”[17; tr.
Như vậy, trong quan niệm này đã chỉ ra các dấu hiệu của vi phạm pháp luật: - Vị phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật; - Có lỗi; - Do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện; - xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Quan niệm này là cơ sở lý luận để đưa ra quan niệm về vi phạm hành chính. Khái niệm vi phạm hành chính Các hành vi vị phạm pháp luật rất đa dạng. Tất cả các hành vị xâm hai đến các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật bảo vệ đều có thể là vi phạm pháp luật.
Do đó, tương ứng với từng ngành luật có các loại vi phạm pháp luật khác nhau, nhưng do tính chất, nội dung của chúng, do biện pháp báo vệ của pháp luật nên thường được quy kết về bốn loại: Tội phạm. vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm hành chính, vi phạm ky luật. vi phạm hành chính trước hết là vi phạm pháp luật. Day là dạng vi phạm pháp luật xảy ra nhiều và rất dễ xảy ra.
Bởi lẽ, hành vi vị phạm hành chính là có lỗi. song nhiều khi người vi phạm chỉ là do vô tình, sao nhãng, không quan tam đến pháp luật, thậm chí vi phạm mà không biết là vi phạm. Điều này cho thay: Người vị phạm chưa xác định được thế nào là vi phạm hành chính. ngay cả cán bộ công chức có thẩm quyền cũng nhận thức về vi phạm hành chính một cách chưa day đủ.
Vì vậy, việc xác định rõ khái niệm vi phạm hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật luôn có tính thời sự và cần thiết nhàm để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm và các vi phạm pháp luật khác và cũng là để xác định một hành vi vi phạm pháp luật nào đó là vi phạm hành chính. Mac dù có khái niệm vi phạm hành chính mới chi là ranh giới khái quát về vi phạm hành chính, song lại rất cần phải có và có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật. Điều 1 Pháp lệnh xử phạt hành chính (1989) đã đưa ra khái niệm chung về vi phạm hành chính: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân hay tổ chức thực hiện một cách cốý hoặc vô ý, xâm phạm đến quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xứ phại hành chính”. Khái niệm trên phần nào đã chỉ ra được các dấu hiệu, yếu tố cấu thành vị phạm hành chính.
Xung quanh khái niệm này cũng có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Có ý kiến cho rằng: “Việc xác định khách thể vi phạm hành chính là các quy tắc quản lý nhà nước dẫn đến chỗ nó có thể được hiểu là khách thể của các vi phạm kỷ luật và không bao gồm được các quan hệ xã hội liền quan đến sở hữu nhà nước, các quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công đán {Š5: tr. Ý kiến khác lại cho rằng: “Khách thé vi phạm hành chính (những quan hệ bị xâm hại) không được nêu ra trong định nghĩa, tuy rằng điều này không quan trọng. Công thức “xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước ” không phải là khách thể vi phạm mà là tính trái pháp luật của hành v58; tr.
Thực ra khi phê phán quan niệm về vị phạm hành chính các tác giả đều có lý của nó. Điều đáng nói ở đây là cần phải làm rõ giới hạn “quy tac quan lý nhà nước”. Theo nghĩa đầy đủ nhất thì mọi văn bản quy phạm pháp luật đều là quy tác quản lý nhà nước. Theo chúng tôi, việc xác định khách thể của vi phạm hành chính là quy tác quản lý nhà nước là không thể chấp nhận được.
như đã nói ban dau, khái niệm vi phạm hành chính mặc dù chỉ mang ý nghĩa là ranh giới có tính khái quát song lại cần thiết để phân biệt vi phạm hành chính với vi phạm pháp luật khác. Ma đã là vi phạm pháp luật thì đều xâm phạm quy tac quản lý nhà nước, chứ không riêng gi vi phạm hành chính. Thật ra hành vi vị phạm hành chính xâm phạm các quan hệ xã hội được quy tắc quan lý nhà nước bảo vệ. Lé dĩ nhiên để chỉ rõ khách thể vi phạm hành chính thì phải chỉ rõ những quan hệ xã hội bị vi phạm hành chính xâm phạm là các quan hệ xã hội được luật hành chính bảo vệ.
Điều này cũng cho thấy rằng: Để đảm bảo pháp chế và hiệu lực của các quy định trong Pháp lệnh thì bản thân Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính phải quy định rõ ràng về hành vi vị phạm và hình thức xử phạt đối với hành vị đó (giống như Bộ luật hình sự). Hiện tại Pháp lệnh mới chỉ xác định vị phạm hành chính chung chung, còn hành vi vi pham hanh chinh lai giao cho Chính phủ quy định tại các Nghị định. Thực chất, đây cũng chi là giải pháp nhất thời, khi mà trong điều kiện hiện nay số lượng vi phạm hành chính con nhiều và cũng để đảm bảo kịp thời hơn phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước. + Một điểm nữa trong khái niệm vi phạm hành chính mà Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính (1989) nêu ra cũng được nhiều nhà khoa học tranh luận đó là ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm.
“Ma không phải là tội phạm hình sự”. Có quan điểm cho rằng: Nếu quan niệm như vậy rất dé làm cho chủ thể có thẩm quyền hiểu nhầm đến chỗ tự cho mình đánh giá hành vi nào là vị phạm hình sự, hành vi nào là vi phạm hành chính mà xem nhẹ việc dựa vào các quy định của Bộ luật hình sự. Theo chúng tôi. quan điểm trên có phần hợp lý.
việc xác định khong phái là tội phạm nếu đã đưa vào khái niệm thì cần phải đưa ra các quy định của pháp luật về tội phạm. Mà việc đưa ra các quy định của pháp luật về tội phạm lại không thể nêu ra trong khái niệm. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (1995) đang có hiệu lực thi hành. Song một điều đáng tiếc là Pháp lệnh lại không có một điều nao, khoản nào xác định trực tiếp khái niệm vi phạm hành chính.
Mà tại Điều | khoan 2 Pháp lệnh xử lý vị phạm hành chính (1995) chỉ gián tiếp nêu như sau: "Xứ phạt vi phạm hành chính được áp dung đổi với cá nhân, tổ chức có hành vi có Ý hoặc v6 ý xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm pháp lý hình sự và theo quy định của pháp luật phát bị xuphạt hành chính. Đây có thể được coi là một khiếm khuyết của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (1995), ở góc độ này đã khiến cho Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (1995) thể hiện bước “thụt lùi” so với Pháp lệnh xử phat vi phạm hành chính (1989). Tuy nhiên, ngay khái niệm vi phạm hành chính trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính (1989) và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (1995) so với định nghĩa về tội phạm hình sự (trong Bộ luật hình sự) thì còn rất chung chung và chưa nêu được cụ thể về các dấu hiệu và các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính. Mac dù Điều 5 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Điều 6 có bổ sung một số ý về mật chủ quan, chủ thể của vi phạm hành chính nhưng chưa hoàn toàn day đủ.
Theo chúng tôi đây là một hạn chế lớn khi chưa đưa ra khái niệm vi phạm hành chính với đầy đủ các dấu hiệu và yếu tố cấu thành vi phạm hành chính. Vì vậy cần đưa ra một khái niệm vi phạm hành chính có sự khôi phục lại khái niệm vi phạm hành chính trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính (1989) và làm rõ thêm mat chủ quan. khách quan của vi phạm hành chính. _ Từ những vấn dé nêu trên có thể quan niệm về vi phạm hành chính như sau: “Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do cá nhân có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm 9 trật tự xã hội.
trật tự nhà nước, sở hữu tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của cong dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính”. Đặc điểm và câu thành vi phạm hành chính Việc dua ra khái niệm vị phạm hành chính không chi có ý nghĩa lý luận. mà còn có ý nghĩa thực tiên sâu sac.