Chương 1, Luật thương mại năm 2019. Tiêu biểu tại Mục 2, Điều 10 quy định về nguyên tác bình đẳng trươc pháp luật của thương nhân, trong đó “?zơng nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại.” Tiếp đó, Điều 11 quy định “Các bên có quyén tự do thỏa thuận không trai với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và dao đức xã hội dé xác lập các quyên và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mai.” Điều 14 quy định về nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đây du, trung thực cho người tiếu dùng về hàng hóa và dich vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin do; 2. Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh.
” Trong sản xuất, kinh đoanh và mua bán trao đổi hàng hóa, lợi nhuận thường là yếu tố được đặt lên hàng dau, tuy nhiên lợi nhuận phải luôn đi kèm với trách nhiệm. Trách nhiệm đó là trách nhiệm đóng thuế cho ngân sách nhà nước của mỗi cá nhân, tổ chức tham gia vào thị trường mua ban, trao đôi hàng hóa, gồm các loại thuế đặc thù trong lĩnh vực xuất nhập khâu như thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ, thuế chống trợ cấp, thuế bảo vệ môi trường.; là trách nhiệm đưa đến cho người tiêu dùng những sản phâm chất lượng, an toàn, phù hợp với quy định của pháp luật, phủ hợp với các chuân mực đạo đức của xã hội, phù hợp với sự phát triển tích cực về đân trí của người tiêu dung:. Do đó, nâng cao hiệu quả phòng ngừa buôn lậu sẽ là cơ sở, tiền dé dé giải quyết phan lớn những van dé ké trên mang lai một môi trường kinh đoanh lành mạnh, công bằng, các doanh nghiệp cùng hỗ trợ nhau phát triển, không tạo ra khoảng cách lớn giữa sự cạnh tranh về hang hóa san xuất trong nước với hàng hóa ngoại nhập. Các nguyên tắc phòng ngừa tội buôn lậu Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Phòng ngừa tội buôn lậu là hoạt động cần thiết, quan trọng nhằm ổn định và duy trì trật tự quản lý kinh tế.
Do đó khi thực hiện các biện pháp “phòng ngừa”, nguyên tắc này yêu cầu các chủ thê phải tuyệt đối tuân thủ và tôn trọng Hiến pháp và pháp luật; việc xét xử phải đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không áp dụng tùy tiện, làm anh hưởng đến quyên và lợi ích hợp pháp của các đối tượng tham gia vào quan hệ xã hội mà pháp luật về xuất nhập khâu quy định. Các cơ quan tiến hành tô tụng khi thực hiện chức năng điều tra, truy tố, xét xử phải tuân theo đúng và đây đủ các thủ tục luật định. Đối với công dân, nguyên tắc này đòi hỏi mỗi công dân Việt Nam phải tuân thủ theo quy định của pháp luật triệt dé, thường xuyên nâng cao ý thức pháp luật, tích cực tham gia vào phong trào dau tranh phòng chống tội phạm, điển hình là tội phạm buôn lậu. Nguyên tắc nhân đạo: Nội dung của nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự thé hiện ở mức độ khoan hồng của luật hình sự với người phạm tội, với co sở của sự khoan hồng đối với người phạm tội nằm trong những giá trị nhân đạo được ghi nhận và bảo vệ, theo đó mức độ khoan hồng đối với người phạm tội tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
Y nghĩa của hành vi phạm tội không chi gồm dấu hiệu bắt buộc về mặt khách quan, ma con bao trum ở phạm vi rộng hơn do tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội. Các tình tiết cho phép đối xử nhân đạo hơn với người phạm tội mang ý nghĩa giảm nhẹ hình phạt, đôi khi được coi là điều kiện để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội”. Các biện pháp phòng ngừa tội buôn lậu nhằm hạn chế tới mức tối đa tội buôn lậu xảy ra, ngăn chặn hiệu quả các hành vi vi phạm trên thực tế. Đồng thời, các biện pháp này không chỉ đám bảo phù hợp với pháp luật, quy định hiện hành mà còn phải đảm bảo được các nguyên tắc về nhân đạo, các gia tri về dao đức.
Ÿ Hồ Sỹ Sơn, Nội dung của nguyên tắc nhân đạo trong Luật Hình sự - Các quan điểm và cách tiếp cận 17 Nguyên tắc phối hợp giữa các chủ thê và các biện pháp phòng ngừa tội buôn lậu: Phòng ngừa tội buôn lậu là hoạt động cần được tiến hành tông thê, đồng nhất. Để đạt được hiệu quả phòng ngừa cao, cần có sự tham gia, phối hợp của toàn xã hội, cụ thể hơn là sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, các tô chức cá nhân — những chủ thể tham gia phòng ngừa. Đối với tội buôn lậu, phải đảm bao hoạt động phòng ngừa tội phạm này đối với doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, mua bán hàng hóa qua biên giới. Đồng thời, các cơ quan, lực lượng có chức năng, nhiệm vụ cần xây dựng quy chế phối hợp hiệu qua, không dé xảy ra trường hợp chồng chéo nhiệm vụ.
đùn đây trách nhiệm giữa các đơn vị. Dựa vào đó, tạo ra sự phối hợp tổng thé, tạo hiệu qua và sức mạnh trong phòng ngừa tội buôn lậu. Do tính “quốc tế” của hành vi buôn lậu, nguyên tắc phối hợp còn bao gồm các chủ thé là các quốc gia có hoạt động xuất, nhập khâu. Việc phối hợp, trao đổi nghiệp vụ trong phòng, chống buôn lậu giữa các quốc gia thường xuyên đóng góp nhiều cho hoạt động phòng ngừa tội phạm này.
Nguyên tắc khoa học: Việc xây dựng và áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội buôn lậu phải dựa vào các căn cứ, các nghiên cứu khoa học. Các biện pháp phòng ngừa tội buôn lậu phải được đưa ra dựa trên các kết quả nghiên cứu lý luận và tông hợp thực tiễn vé tình hình tội buôn lậu, từ đó xem xét, đánh giá nguyên nhân. Bên cạnh đó, nguyên tắc đòi hỏi các đối tượng áp dụng sử dụng các đổi mới trong khoa học kỹ thuật trong việc nghiên cứu, tông kết thực tiến, áp dụng khoa học hiện đại, công nghệ thông tin trong công tác phòng ngừa tội buôn lậu. Uư tiên đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện hiện đại, công nghệ tiên tiến để đảm bảo hiệu quả quản lý kinh tế: khuyến khích sự phối hợp, hỗ trợ của cá nhân, tổ chức trong hoạt động nâng cấp trang thiết bị khoa học kỹ thuật dé quản lý nha nước hiệu qua trong lĩnh vực kinh tế nói chung và lĩnh vực mua bán hàng hóa qua biên giới nói riêng.
Trong thời đại cách mạng công nghiệp, sử dụng kỹ thuật hiện đại đóng góp không nhỏ trong nâng cấp, cải thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý 18 kinh tế, ma con góp phan nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội buôn lậu. Nội dung phòng ngừa tội buôn lậu a. Nghiên cứu, xác định các nguyên nhân, điều kiện của tình trạng tội buôn lậu Phòng ngừa tội buôn lậu là việc tiến hành đồng bộ các nội dung, biện pháp nhằm mục đích ngăn chặn, đây lùi, hạn chế hoặc làm các nguyên nhân, hiện tượng đóng vai trò là nguyên nhân không phát huy được tác dụng. Có thê thấy tội buôn lậu bắt nguồn do nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân nổi bật như nguyên nhân xuất phát từ tâm lý xã hội; nguyên nhân do lợi nhuận buôn lậu mang lại; nguyên nhân do sự hạn chế từ công tác tuyên truyén, giáo dục; nguyên nhân liên quan đến hoạt động của các lực lượng chức năng: nguyên nhân do yếu kém về khoa học, kỹ thuật,.
Dé thấy buôn lậu tuy là một hành vi mang tính đặc thù, nhưng lại có nguyên nhân xuất phát từ rất nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống xã hội. Do đó việc kiểm soát, quản lý buôn lậu chứa đựng nhiều khó khăn, thách thức đối với các chủ thể phòng ngừa. Nghiên cứu, soạn thảo, dé ra các chủ trương, giải pháp, biện pháp thích hợp dé khắc phục nguyên nhân, điều kiện của tội buôn lậu Đối với mỗi nguyên nhân, mỗi vụ việc cụ thể cũng như đối với mỗi hành vi buôn lậu khác nhau, đề xuất biện pháp khắc phục được nghiên cứu soạn thao dé đấu tranh xóa bỏ nguyên nhân, điều kiện của tội buôn lậu cho phù hợp. Nghiên cứu về tâm lý xã hội nhằm xác định rõ nguyên nhân và điều kiện của tội buôn lậu theo phạm vi không gian và thời gian khác nhau trên dia ban tỉnh.
Nghiên cứu các giải pháp giảm thiêu lợi nhuận do buôn lậu mang lại, từ đó tạo thị trường lành mạnh, công bằng với đa dạng về hang hóa, lãi suất phủ hợp, giảm nhu câu về hang lậu, giảm nguồn cung của hang lậu. 19 Nghiên cứu các tiến bộ trong khoa học kỹ thuật trên toàn cầu trong lĩnh vực ngoại thương và quản lý kinh tế, từ đó áp dụng vào thực tế tại từng khu vực để khắc phục các yếu kém về khoa học kỹ thuật, nâng cao hiệu quả phòng ngừa. Các chủ thể phòng ngừa tội buôn lậu a. Chủ thể lãnh đạo hoạt động phòng ngừa tội buôn lậu Bam sát các đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nha nước, việc lãnh đạo hoạt động phòng ngừa tội buôn lậu là trách nhiệm của tất cả các lực lượng chức năng, cũng như quần chúng nhân dân.
Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý xã hội trong công tác phòng chống buôn lậu, Thủ tướng chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2014 về việc Thanh lập Ban chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (được sửa đối, bồ sung tại Quyết định số 09/OD-TTg ngày 06/1/2017). Điều 4 Quyết định này quy định việc thành lập Ban Chi đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tại các bộ, ngành có thành viên tham gia Ban Chỉ đạo 389 quốc gia; các địa phương, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phô trực thuộc trung ương thành lập Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mai và hàng giả của địa phương do Phó Chủ tịch làm Trưởng Ban, có thành phần va cơ quan thường trực phù hop, đảm bảo hoạt động hiệu quả.