Chương 1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật BVTQ Việt Nam Chương 2. Quá trình hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về BVTQ Việt Nam hiện nay Chương 3. Quan điểm, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVTQ Việt Nam hiện nay 4 CHUONG 1.
MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHAP LUAT BAO VE TO QUOC VIET NAM 1. Khái niệm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Trước Cách mạng Tháng Mười của Nga năm 1917, C. Angghen chưa đề cập van đề BVTQ trong học thuyết của mình. Nhưng sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, ra đời Nhà nước XHCN dau tiên, van đề BVTQ, bao vệ chế độ đã được đặt ra một cách cấp thiết.
Quan điểm của V. Lenin “chung ta phải có một thái độ nghiêm túc doi với van dé khả năng quốc phòng va doi với van dé chuẩn bị chiến dau của nước nhà”'. BVTQ không phải chỉ khi có chiến tranh mà cần phải chuẩn bị nghiêm túc ngay trong thời bình, sẵn sàng giành thế chủ động trong mọi tình huống với phương châm kết hợp chặt chẽ giữa sự nghiệp xây dựng và BVTQ. Ngày nay, xu hướng hợp tác, hòa bình và phát triển van là xu hướng chủ đạo của các nước trên thế giới.
Tuy nhiên, cạnh tranh, xung đột tại các “điểm nóng” vẫn tiếp tục diễn ra, làm đứt gãy các chuỗi cung ứng, khiến kinh tế thế giới giảm tốc, gia tăng lạm phát, khủng hoảng chính trị diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới như Trung Đông, châu Phi tác động đến lợi ích ANQG Việt Nam. Là một quốc gia có vi trí địa chính trị đặc biệt quan trọng của khu vực Đông Nam Á, cửa ngõ quan trọng của hàng hải quốc tế. Tranh chấp Biển Đông ngày càng gay gắt, nguy cơ va chạm trên thực địa ngày càng hiện hữu. Dang ta đã nhận định: “7ranh chấp chủ quyên lãnh thổ, chủ quyên biển, đảo diễn ra căng thang, phức tạp, quyết liệt hơn.
Biển Đông của Việt Nam dang đứng trước thách thức, tự do hàng hải, hòa bình, ổn định trên Biển Đông bị de dọa, nguy cơ xung đột giữa các nước lớn thường xuyên xảy ra”. Việt Nam đối mặt với nguy cơ trở thành địa bàn tranh giành ảnh hưởng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhằm lôi kéo, gây sức ép đối với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa. Những thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống trên thế giới ngày càng tăng, khủng hoảng ' V. Lenin toàn tập, NXB tiến bộ, Matxcova, 1978.35, tr480_ ; * Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lan thứ XIII, tap 1, Nxb.
Chính trị Quôc gia - Sự thật, H. 5 lương thực, khủng hoảng thông tin, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng. đe dọa tất cả các nước trên thế giới, đòi hỏi sự nỗ lực phối hợp đồng bộ giải quyết của nhiều nước trên thế giới. Bên cạnh đó, các tô chức phản động lưu vong, cơ hội chính trị trong và ngoài nước thường xuyên móc nối, lôi kéo, tập hợp lực lượng dé chống pha Đảng va Nhà nước, phá hoại hòa bình và ôn định của nhân dân; vu cáo làm mắt hình ảnh, uy tín của đất nước, dân tộc Việt Nam.
Chính vi thế, BVTQ không chỉ bảo vệ độc lập, chủ quyên, toàn vẹn lãnh thé mà còn phải bảo vệ thể chế chính trị, văn hóa, dân tộc. BVTQ cần được quan tâm ngay từ khi đất nước còn chưa lâm nguy, BVTQ là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục. Cương lĩnh chính tri của Dang Cộng sản Việt Nam khẳng định: “mực tiéu, nhiệm vụ chiến lược về quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyên, thong nhất, toàn vẹn lãnh thé của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững hoa bình, ồn định chính trị, bảo đảm ANQG và TTATXH, chủ động ngăn chặn, làm thất bai mọi âm mưu và hành động chong phá của các thé lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong, số cơ hội chính trị trong và ngoài nước đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”`. Đồng chí Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã nói “BVTO trong thời bình không chỉ là chống lại hoạt động xâm lược của kẻ địch từ bên ngoài, mà con phải đặc biệt chăm lo xây dựng và giữ vững bên trong, đối phó với những thủ đoạn, hoạt động phi vũ trang của dich”.
Xây dựng quốc gia giàu mạnh chính là tạo tiềm lực dé BVTQ, ngược lại BVTQ vững chắc chính là tạo môi trường hòa bình, ôn định dé đất nước phát triển. Chúng ta phải luôn luôn quán triệt phương châm: giữ nước từ khi nước chưa nguy, BVTQ từ sớm, từ xa, luôn luôn cảnh giác, thực hiện ngăn ngừa và đây lùi nguy cơ xung đột và chiến tranh, không dé bị động trước mọi tình huống. Doi hỏi Dang và Nhà nước luôn nêu cao tình thần cảnh giác, chủ động xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ Tô quôc; xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, tiêm lực quân sự đủ mạnh 3 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.
* Thanh Hà, “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi chưa nguy”, Báo Nhân dân, ngày 07/6/2023. 6 răn đe và đủ khả năng phòng thủ để bảo vệ đất nước. Chính vì vậy Đại hội Đảng lần thứ XIII đã tiếp tục khang định những quan điểm cơ bản về nhiệm vụ BVTQ Việt Nam XHCN trong tình hình mới: “Phá huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hop của toàn dán tộc, của cả hệ thong chinh tri, tranh thi toi da su dong tình, ung hộ cua cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì dau tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyên, thong nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhán dân và chế độ XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nên văn hóa dân tộc; giữ vững moi trường hoa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”. Trong bối cảnh, Việt Nam đang tăng cường hợp tác quốc tế, nền kinh tế có độ mở lớn, đối mặt với nhiều nguy co tiém tang, do vay nhiệm vu BVTQ càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, cần đáp ứng những yêu cầu cu thé sau: Thứ nhất, BVTQ là bảo vệ quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững hòa bình, 6n định; đảm bảo ANQG, TTATXH, môi trường phát triển kinh tế, xã hội, lay con người làm trọng tâm.
Thứ hai, BVTQ là luôn luôn chủ động ngăn ngừa, ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ xa, từ sớm; phát hiện sớm, không dé nhân tố bat lợi tác động tiêu cực đến sự ôn định, phát triển của đất nước. Lay công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực làm bước đột phá dé xây dung và bảo vệ đất nước. Thứ ba, BVTQ cần tiếp tục thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự lực, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa với tất cả các đối tác trên thế ĐIỚI; kiên trì chính sách bốn “không”; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ của tất cả các nước, các tổ chức quốc tế. Các tranh chấp, bất đồng phải giải quyết băng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Không dé xảy ra xung đột, chiến tranh biên ĐIỚI, biên, đảo, chiến tranh mạng, bạo loạn, khủng bó, nhất là hình thành tô chức chính trị đối lập ở trong nước. Thi tư, Dang Cộng sản Việt Nam chỉ rõ phải biết kết hop đấu tranh vũ trang và phi vũ trang để BVTQ. Xây dựng lực lượng vũ trang tinh nhuệ, chính quy, hiện ” Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021.
7 đại, trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, nòng cốt cho sự nghiệp BVTQ. Đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu, chủ động ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá chế độ, chống phá Nhà nước XHCN Việt Nam của các thế lực thù địch, t6 chức phản động lưu vong, số cơ hội chính tri; không dé bi động, bất ngờ trước mọi tình huống. Thư năm, tăng cường, phát huy sức mạnh tông hợp của cả hệ thong chính trị, phát huy cao nhất mọi tiềm năng của đất nước, nhất là vai trò của nhân dân trong BVTQ. Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm đấu tranh chống lại ngoại xâm, chống lại kẻ thù có sức mạnh lớn hơn gap nhiều lần nhưng với tinh thần yêu nước, không chịu khuất phục trước kẻ thù, tập hợp được sức mạnh đoàn kết của tất cả hệ thống chính trị, dân tộc Việt Nam luôn giữ được độc lập, tự do.
Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khăng định sức mạnh BVTQ là sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, sức mạnh trên tất cả các lĩnh vực của đời song xã hội và của các lực lượng: kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, nhưng suy cho cùng sức mạnh của nhân dân mới là cốt lõi. Đảng và Nhà nước luôn xác định sức mạnh của nhân dân là yếu tố quyết định cho sự nghiệp BVTQ, phan ánh đúng bản chất chế độ XHCN Việt Nam, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tăng cường sự đồng thuận của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước trong bôi cảnh tác động trong - ngoài diễn biến ngày càng phức tạp. Khái niệm, đặc điểm, vai trò pháp luật về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam 1. Khái niệm pháp luật về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Ở Việt Nam, sau khi chính quyền mới được thiết lập ngày 02/9/1945, nhà nước đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về BVTQ, giữ vi tri, vai trò quan trọng, hang dau, có ôn định chính tri thì mới có hào bình và phát triển.
Trải qua các giai đoạn kháng chiến, kiến quốc, hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về BVTQ nói riêng càng ngày càng được củng cố, hoàn thiện cả về nội dung và hình thức. Đặc biệt, từ sau đôi mới năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá đầy đủ và đồng bộ trên hầu hết các lĩnh vực.