Chương I NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP DONG THƯƠNG MAI 1. Lược sử phát triển pháp luật thương mại Việt Nam Có thể nói rằng pháp luật thương mại ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường trên thế giới. Chính nhu cầu trao đổi hàng hoá và buôn bán của các thương nhân trong mỗi nước và với nước ngoài đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của thương mại và pháp luật thương mại. Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì nội hàm của khái niệm thương mại càng được mở rộng.
Sự mở rộng của khái niệm thương mại kéo theo sự mở rộng đối tượng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật thương mại. Pháp luật thương mại không chỉ phát triển như một lĩnh vực pháp luật trong hệ thống pháp luật của các quốc gia có nền kinh tế thị trường hay có nền kinh tế theo định hướng thị trường mà còn phát triển thành một lĩnh vực pháp luật quốc tế cơ bản. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật thương mại ở mỗi quốc gia và pháp luật thương mại quốc tế hoàn toàn tương tự nhau và có ảnh hưởng qua lại với nhau theo một hướng thống nhất. Các quy tắc và chuẩn mực thương mại được pháp luật thừa nhận hay các tập quán thương mại ở mỗi quốc gia và quốc tế ngày càng có xu hướng xích lại gần nhau hơn.
Cái nôi của sự ra đời và phát triển thương mại và pháp luật thương mại là ở Châu Âu. Từ chỗ chỉ là các quy tắc xử sự mang tính tập quán, hội hiệp, thông lệ, tôn giáo, đạo đức để điều chỉnh mối quan hệ giữa một tầng lớp người lấy việc mua bán hàng hoá làm nghề nghiệp chính và độc lập của mình, được gọi là các thương nhân, đến chỗ được pháp điển hoá trong văn bản pháp luật của Nhà nước, pháp luật thương mại đã có một bước tiến đáng kể. Sự ra đời của các cuộc cách mạng tư sản mà tiêu biểu là cuộc Dai cách mạng tư sẵn Pháp và việc ban hành Bộ luật thương mại Pháp năm 1807 là một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật thương mại. Quan niệm về các quyền tự do dân chủ, trong đó có quyền tự do sở hữu, tự do kinh doanh trong pháp luật Pháp nhanh chóng lan toả đi khắp Châu Âu.
Nhiều nước khác cũng ban hành Bộ luật thương mại hoặc pháp điển hoá pháp luật thương mại với hình thức thấp hơn như Bộ luật thương mại Tây Ban Nha năm 1885, Bộ luật thương mại Hung-ga-ri năm 1875, Bộ luật thương mại Hà Lan năm 1838, Bộ luật thương mại Đức năm 1897, Đạo luật về hối phiếu của Anh năm 1882, Đạo luật về công ty của Anh năm 1890. Điều nay nói lên rằng, chính quan hệ san xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ thị trường đã đòi hỏi và thúc đẩy sự ra đời của nhiều Bộ luật thương mại của các nước Châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới. Luật thương mại mang tính quốc tế và đa hướng nên sự phát triển của pháp luật thương mại quốc gia cũng dẫn đến sự phát triển của pháp luật thương mại quốc tế. Mặc dù pháp luật thương mại quốc tế có lịch sử rất lâu đời nhưng sự phát triển thực sự của nó được đánh dấu bởi sự ra đời của các tổ chức trong hệ thống Bretton Woods năm 1944: Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển (Ngân hang thế giới - WB), Qui tiền tệ quốc tế (IMF) và việc chuẩn bị thành lập Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) và sau đó là Hội nghị Liên Hợp quốc về Thuong mại và Phát triển (UNCTAD).
Việc thành lập Tổ chức thương mại quốc tế không được thực hiện mà thay vào đó là một Hiệp định chung về thương mại 1947 (GATT) cũng đã chứng tỏ những khó khăn trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật thương mại quốc tế. Tuy nhiên, lịch sử gần 50 năm phát triển của GATT đã chứng to vai trò đặc biệt quan trọng của pháp luật thương mại quốc tế đối với sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung và của thế giới nói riêng. Thành tựu của GATT đã thúc đẩy các quốc gia thành lập một tổ chức quốc tế chuyên trách về thúc đẩy và giám sát các hoạt động thương mại quốc tế. Tổ chức Thương mai thế giới (WTO) đã ra đời năm 1995 trên cơ sở kế thừa và phát triển GATT.
Các hiệp định trong khuôn khổ WTO đã và đang đóng vai trò là khung xương pháp lý cho toàn bộ hệ thống pháp luật thương mại quốc tế. Các nguyên tắc và quy phạm của nó cũng được nhiều quốc gia trên thế giới dùng làm khuôn mẫu để xây dựng các nguyên tắc và quy phạm pháp luật của quốc gia. Với 137 quốc gia và khu vực thương mại độc lập là thành viên và khoảng hơn 30 quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, đang xin gia nhập thì WTO thực sự là minh chứng điển hình cho sự cần thiết, quan trọng và phổ biến của pháp luật thương mại. Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng đạo đức dé cao đời sống tinh thần và coi nghề thương thấp hơn nghề nông nên thương mại kém phát triển.
Cho đến giữa thế kỷ XIX, những ảnh hưởng của tư tưởng tự do hoá thương mại và thống nhất pháp luật nhằm điều chỉnh các hành vi thương mại của thương nhân ở Châu Âu và xu hướng quốc tế hoá thương mại đã không lan toa được đến Viễn Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Pháp luật phong kiến của Việt Nam nói riêng cũng như của nhiều nước Châu Á khác chịu ảnh hưởng nặng nề của các tư tưởng nho giáo và phật giáo. Nghiên cứu pháp luật của Việt Nam, các nhà nghiên cứu thường đi đến một nhận xét là: pháp luật phong kiến của Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật phong kiến Trung Quéc.' Chính vì vậy, các tư tưởng về tự do thương mai của châu Âu không có “đất” để phát triển. Trong lịch sử phát triển các triểu đại phong kiến Việt Nam cũng như các nhà nước phong kiến phương Đông khác, pháp luật chủ yếu điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hình sự, hành chính, các giao dịch giữa các thương nhân được điều chỉnh trước hết bởi phong tục, tập quán, thông lệ và các quy phạm đạo đức.
Quá trình du nhập pháp luật thương mại phương Tây vào Việt Nam không diễn ra một cách suôn sẻ. Có thể nói, chúng được du nhập vào Việt Nam dưới : TS. Đào Trí Úc, TS.Lê Minh Thông: Sự tiếp nhận các giá trị pháp lý phương đông và phương tây đối với sự phát triển các tư tưởng pháp lý Việt Nam, Tạp chí “Nhà nước và Pháp luật”, Số 5/1999. 9 họng súng của người xâm lược.” Năm 1864, thực dân Pháp đem Bộ luật thương mại Pháp áp dụng tại Nam kỳ và năm 1888 áp dụng tại Bắc kỳ.
Dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Luật thương mại Pháp, năm 1942 theo Chiếu dụ số 46 ngày 12-6- 1942 (năm Bảo Đại thứ 17) chính quyền Nam triểu Bảo Đại ban hành Bộ luật thương mại áp dụng tại Trung kỳ từ ngày 1-1-1944. Năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành Bộ luật thương mại áp dụng ở Miền Nam Việt Nam cho tới ngày thống nhất đất nước. Bộ luật này cũng chỉ là một văn bản có giá trị sử liệu nhiều hơn là giá trị thực tiễn. Xã hội Việt Nam thời đó (cũng như ngày nay) được cấu trúc nên bởi những cộng đồng làng xã với những tục lệ lâu đời, có tính tổ chức cao và thói quen chống lại các ảnh hưởng bị ép buộc bởi các thế lực bên ngoài.
Vì những lẽ đó, pháp luật dân sự và thương sự do chính quyền thực dân và chính quyền Nam triều ban hành chỉ được áp dụng trong một phạm vi hạn hẹp mà không thể bám rễ lâu bền trong xã hội Việt Nam. Mặc dù vậy, pháp luật thương mại thời kỳ này ít nhiều đã là những thử nghiệm đầu tiên chuyển hoá tư tưởng pháp luật thương mại Châu Âu vào Việt Nam. Cùng với thắng lợi trong cuộc chiến tranh giành độc lập hoàn toàn năm 1975, những tàn dư của xã hội cũ, trong đó có pháp luật về thương mại ở miền Nam, đã bị xoá bỏ. Cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp cũng như vi trí độc tôn của quan hệ sở hữu nhà nước đã quyết định phương pháp điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ kinh tế.
Tiếp thu từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước kia, một ngành luật kinh tế đã dân dân hình thành ở Việt Nam mà không kéo theo những tranh luận khoa học đáng kể nào.” Cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung dựa trên các chỉ tiêu kế hoạch và được điều chỉnh bằng pháp luật về hợp đồng kinh tế đã làm cho pháp luật thương mại không còn chỗ đứng. Khái niệm thương mại hầu như không được nhắc tới trừ khi liên quan đến kinh tế đối ngoại, , TS. Pham Duy Nghĩa: Tìm hiểu Luật Thương mại Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, trang 15.
Nguyễn Như Phát: Luật kinh tế trong ma thế kỷ phát triển của Nhà nước, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/1995. 10 đặc biệt là trong quan hệ với các nước tư bản chủ nghĩa và các nước đang phát triển. Từ Đại hội VI năm 1986, Dang ta chủ trương phát triển nền kinh tế hang hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhất là sau khi Hiến pháp 1992 ghi nhận “Công dan có quyền tự do kính doanh theo quy định của pháp luật” (Điều 57), cùng với việc thừa nhận sự tồn tại của nhiều loại hình kinh tế khác nhau đại diện cho các hình thức sở hữu khác nhau, các quan hệ sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam đã thay đổi về số lượng cũng như chất lượng.
Nhà nước thừa nhận và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của công dân về tư liệu sản xuất, vốn và các tài sản khác, công nhận quyền tự do kinh doanh của công dân và quyền bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể tham gia kinh doanh, giao quyền tự chủ tài chính cho xí nghiệp quốc doanh, khuyến khích đầu tư nước ngoài. Các quan hệ này đã nằm ngoài sức chứa của một ngành luật kinh tế theo nghĩa truyền thống”.