Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÌNH PHAT VÀ HỆ THỐNG HÌNH PHAT. Khái niệm và mục đích của hình phạt: 1. Khái miệm hinh phạt: Trong các biện pháp đấu tranh phòng va chống tội phạm, hình phat được cot là loại biện pháp có vị trí đặc biệt quan trong. Hình phạt được áp dung một cách có hệ thông.
phổ biến và có lịch sử phát triển cat lâu đời. Trong bất kỳ Nha nước nào, hình phạt cũng được coi là công cụ hữu hiệu dé đấu tranh chống lại sự xâm pham đến những quyền, lợi ích của Nhà nước nói riêng và của xã hội nói chung. Mác nói :"Hình phạt không phải là một cái gi khác ngoài phương tiện của xã hội để tự bảo vệ mình chống lại sự vi phạm các điều kiện (On tai của nó” (14, tr. Lich sử phát triển của luật hình sự cho thấy có rất nhiều quan niệm khác nhau về hình phạt, nhưng tựu chung lại, có hai loại quan niệm chính; - Loại quan niệm thứ nhất cho răng hình phạt là công cụ trả thù người phạm tội.
Tinh phạt theo quan niệm này bao giờ cũng là những biện pháp rất hà khác, đã man. Day là quan niệm được ấp dụng phổ biến trong thời kỳ phong kiến. Nó lý giải tại sao trong thời kỳ này, rất nhiều loại hình phạt đã man như phanh thay, bêu đầu. dược hiện hữu trong pháp luật hình sự.
Đạo lý "no máu phải trả bang máu” là cơ sở lý luận cho việc áp dụng hình phạt, - Loại quan niệm thứ hai không thừa nhận hình phạt là công cụ trả thu người phạm tội mà cho rang hình phat là công cụ đấu tranh phòng và chống lội phạm. Có thể nói, đây là quan niệm rất nhân đạo và tiến bộ về hình phat. Hình phat theo quan niệm này chủ yếu nhằm mục đích giáo dục người phạm tội trở thành công, đân có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, phòng ngừa tội phạm. Quan niệm này được thể chế hóa trong pháp luật hình sự của da số các nước dân chủ, tiên bộ.
Điều này giải thích bằng việc loại bỏ những hình phạt hà khác, đã man và áp dụng những hình phat không gây ra những dau đớn vẻ thể xác, chà đạp lên nhân phẩm của con người phạm tội. Đặc biệt, xu hướng dang nổi lên hiện nay là loại bỏ những loại hình phạt có tính nghiêm khác cao như tử hình ra khỏi hệ thống hình phat của luật hình su. 6 Trong khoa học luật Hình sự, cách nhìn nhận về hình phat cũng rat khác nhau. Mot luật gia người Mỹ quan niệm: " Hình phạt là việc bất một người phải chịu sự trừng phạt, chịu sự dau đớn, khổ ai và bị hạn chế một số quyền theo quyết định hay bản án của Tòa án vì họ đã thực hiện hành vi phạm tội, vi phạm những điều mà pháp luật hình sự cam hoặc không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật hình sự quy định” (6.
| Mội số nhà tội phạm học thì cho rằng :"Hinh phạt như là sự đau đớn hoặc là những hậu qua bất lợi mà người phan tội phat chịu vì đã thực hiện hành vi phạm tội” (8, tr 262). Một số khác lại nhận định “Tinh phạt nh là mot chế tài ip dung trong trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi” (8. Còn Gura, một nhà luật học Ấn độ lại có quan niệm :"hình phạt dược quyết dinh đối với kẻ phạm tội căn cứ vào pháp luật, nó mang lại những thiệt hại cho chính người phạm tội về thể chất, tính thần hoặc tài sản của họ”. 206) Nghiên cứu các quan niệm trên có thể dé dang nhận thấy rang những -quan niệm nay mới chỉ nêu dược một số nội dung của hình phat, còn bản chất, mục dich, cơ quan dp dụng hình phạt.
thì vẫn chưa được dé cập. Nghiên cứu tác phẩm “Những nguyên lý của luật hình sự Xô - Việt” của Kusnetzova ta thấy, tác gia đã dua ra một quan niệm khá dầy du về hình phạt: "Tinh phat là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, được Tòa an tuyên trong ban ấn, đối với người thực hiện tội phạm, với mục dich phòng ngừa người bị ket ấn phạm tôi mới và phòng ngừa những người Khac phạm tội” (II. 137) Trong lich sử lập pháp hình sự nước ta từ trước tới khi ban hành Bộ luật hình sự hiện hành, khái niệm hình phạt chưa bao gid dược phí nhận. Bộ luật hình sự hiện hành.
mặc dù ghi nhận một cách có hệ thống về hình phạt những chưa quy dịnh khái niệm hình phạt mà chỉ quy dịnh mục dich hình phạt (Điều 20) gidng như pháp luật hình sự một số nước xã hội chủ nghĩa Khác (Liên Xô cũ quy định mục dich hình phạt trong Điều 20 Bộ luật hình sự (1960). Cong hòa Cu-Ba quy định tai Điều 27 Bo luật hình sự (19Ñ7). Tuy vậy, có thể tìm (hay một Khái niệm về hình phat khá hoàn chỉnh trong Bộ luật hình sự Cộng hoa Hiển bang Nea (1996):"Tinh phạt là biện pháp cưỡng che của Nha nước được quyết định theo bản ấn của Toa ấn. Hình phat được ap dụng doi với người phạm tội, tước doat hoặc hạn che các quyền và tự do của người đó theo quy định của Bộ luật này, [lình phạt có mục dich lặp lại sự công bằng cho xã hội cũng như cải lao người bị kết án và phòng ngừa tội phạm” Bộ luật hình sự nước ta (1999) lan dau tiên phí nhận khái niệmhình phạt khi điều 26 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhat của Nha nước nham tước bo hoặc hạn chế quyền, lợi ích cla người phạm tội.
Hình phạt dược quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà ấn quyết dinh”. Trong các tài liệu, sách báo pháp lý chuyên khao - xuất bản ở nước ta quan niệm về hình phạt dược phí nhận khá thống nhất: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Toa ấn ấp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của luật hinh sự, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị két ấn nham mục dich cải tạo, giáo dục người pham tor và ngăn ngừa tội phạm” (TÔ. E90) Mặc dù, từ ngữ sử dụng không giống nhau những có thể nhận thấy rane khát niện hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự (1999) và trong khoa học Luật hình sự nước ta là đồng nhật với nhau. Phân tích khát miệm trên có thể nhận thấy hình phạt có một số đầu hiệu đặc trưng là: Thứ nhất: hành phạt là biện pháp cường chế của Nhà nhóc nghiém khắc nhất.
Bên cạnh các hình thức cưỡng chế trong luật hình sit, trong hệ thống pháp luật của Nhà nước có rât nhiều hình thức cưỡng chế khác như cưỡng chế hành chính, cưỡng chế trong luật lao dong, trong lat dan sự, luật kinh tế. Nội si dungS của các hình thức cưỡng = chế này chủ yếu thể hiện : ở các biện D pháp như cảnh cáo, phat tiền, ha cấp bậc, hạ tầng công tác, chuyển làm việc khác, buộc thỏi việc, phat hop dong, bot thường, bồi hoàn. Nên so sánh các biện phap cưỡng chế này với hình phạt trong Tuật hình sự thì hình phat là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc hon rất nhiều, Tính nghiêm Khác của hình phat the hiện ở các điểm sau: I. Tình phat tước bo những quyền, lợi ích thiệt thân của người phạm (Ol.
Mien pháp của các nước nói chung va Hiến pháp của Việt Nam nói riêng đều thừa nhận công dân bên cạnh những nghĩa vụ phải gánh vac, được hưởng các quyền và lợi ích cơ bản của cá nhân, Các quyển này chủ yếu thể hiện ở quyền sống, quyên bất kha xâm phạm về thân nhân, quyền mưu cần hạnh phúc, các quyền chính trị (quyền bầu cử, ứng cử.) các quyển dân sự (quyền sở hữu.) quyền lao động, các quyển tự do. Các quyền này được các van ban luật và van bản dưới luật cụ thể lida, Điều này có nghĩa, công dan được hưởng các quyền và lợi ích cơ bản, Các quyền và lợi ích này dược Hiến pháp và pháp luật bao vệ. Tuy nhiên, nếu một người thực hiện một hành vị phạm tội thi tầy theo tính chất, mức dé nguy hiểm của hành vi mà các quyển và lợi ích nay có thể bị tước bỏ một phần hay toàn bộ, trong đó quyển sống cũng không £ bịDỊ loai 108 trừ. Hình phạt để lại cho người phạm tội án tích trong mot thời gian nhất định sau khi đã chấp hành song hình phat.
Người phạm tội sau khi đã chấp hành song hình phạt (chính) theo ban kết tôi đã tuyên, phải mang ấn tích một thời gian nhất định. Thời gian này dai hay ngắn là tty theo tính chất, mức do nguy hiểm của tội phạm mà người phạm tội dã thực hiện, Trong khoảng thời gian này, nêu người đó phạm tội mới thì có thể bị coi là tái phạm, tái phạm nguy hiểm để ting nang hình phat dối với tội phạm mới tùy theo tính chat, mức dé nguy hiểm của loại tội phạm mot, 3. Bên cạnh việc phái chap hành hình phat chính, người phạm tội còn bị buộc phải thí hành các hình phạt bổ sung song song với hình phat chính hoặc sau Khí chap hành song hình phạt như: Cam dam nhiệm nhe chức vụ nhât định. cấm làm những nghệ hoặc công việc nhất định, quan chê.
cấm cư trú, tước một số quyền nhât định cua công dân. Ụ 4 Trong số các loại hình phat trong luật hình sự, có một số có tên gọi piông ^ như các biện pháp của các ngành luật khác như cảnh cáo, phạt tiền. Tuy nhiên nếu xem xét về nội dung của mức độ cưỡng chế ta có thể thấy rằng mức độ cưỡng chế của các biện pháp này trong luật hình sự là nghiêm khác hơn rất nhiều. cùng là phat tiền đối với hành vi vi phẩm các quy định về hoạt động trong vùng biển thuộc lãnh hải Việt Nam.
nếu là xử lý hành chính, theo diéu 13 xử phạt hành chính về an ninh, trật tự có thể xử phát đến 2 triệu (2.000) đồng; nến xử lý bang luật hình sự (bằng hình phat) thì hình phat tiển đối với hành ví này có thể đến | tý (1.000) đồng (di vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khái thác và bảo vệ tài nguyên trong lòng dat. trong các vùng biển và thêm lục dia của Việt Nam diều 179 Bộ luật hình sự ). Đối với một số hành vi vi phạm vào trật tự quản lý kinh tế để truy cứu trách nhiệm hình sự phải có điều kiện “đã xử lý hành chính mà còn vi phạm” ví dụ, hành vi kinh doanh trái phép. lập quỹ trai phép, trốn thuế.