phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn gồm 3 chương. Khái quát về vùng đất Quảng Ngãi Chương 2.Kinh tế Quảng Ngãi dưới triều Nguyễn (1802-1885) Chương 3. Xã hội Quảng Ngãi dưới triều Nguyễn (1802-1885) CHUONG 1. KHAI QUAT VE VUNG DAT QUANG NGAI 1.- Tổng quan về điều kiện tự nhiên và xã hội Quảng Ngãi 1.
Đặc điểm tự nhiên 1.Địa hình Quang Ngãi thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý 14932 - 15925” vĩ Bắc, 10806 — 109°04` kinh Đông, lưng tựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt nhìn ra biển Đông; phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Bình Định; phía tây và tây bắc giáp tỉnh Quảng Nam và tỉnh Kon Tum; phía đông giáp biển Đông. “Tinh Quảng Ngài có diện tích tự nhiên 5. Quảng Ngãi có đường bờ biển dài gồm 130 km với 5 cửa biển chính: Sa Cần, Sa Kỳ, Cửa Đại, Mỹ Á và Sa Huỳnh [71. Với đặc điểm chung là núi lớn chạy sát biển và có tính chuyển tiếp từ địa hình đồng bằng ven biển phía đông đến địa hình đổi núi cao ở phía tây nên ở đây được chia thành bốn vùng có tính chất và đặc trưng khác nhau rõ rệt, bao gồm vùng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và vùng bãi cát ven biển.
Vùng rừng núi: Quảng Ngãi là một trong những tỉnh có nhiều rừng núi cao trùng. điệp, với diện tích 391.192 ha, chiếm 2⁄3 diện tích đất đai toàn tỉnh. Núi cao tạo thành hình vòng cung, hai đầu nhô ra sát biển, ôm chặt lấy đồng bằng. Các núi cao có thể kế đến như núi Cà Đam (413m), núi Đá Vách (1115m), núi U Bò (1100m), núi Cao Muôn (1085m).
Bên cạnh đó, các huyện đồng bằng nơi nào cũng có núi cao thấp khác nhau [36, tr. Núi rừng Quảng Ngãi có nguồn tài nguyên phong phú về lâm thổ sản với nhiều loại gỗ quý như lim, sao vát, chò, trắc, huỳnh đàng, kiển kiền, gõ. Ngoài gỗ, rừng Quảng Ngãi còn có nhiễu loại cây thuốc như sa nhân, hà thủ ô, thiên niên kiện, ngũ gia bì, sâm; các loại cây có sợi, cây có dầu trầm hương, cây lấy nhựa và các loại cây lấy nắm. Đồng thời đây còn là nơi sinh sống của nhiều loại thú quý, hàng trăm loại chim quý và là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên khoáng sản, bao gồm các loại: sắt, nhôm, mica, cao lanh, thạch anh, đá vôi.
Trong đó hàm lượng sắt chiếm tỷ lệ khá cao. trong các cồn đất Trà Lâm, Thanh Trà (Bình Sơn), Thiết Trường (Mộ Đức), vì thế trước đây một số nơi trong tỉnh người dân xây dựng các lò để luyện sắt như: Lò Thôi, Gò Đình (Bình Sơn), Lò Thổ (Mộ Đức) và các làng ở Trà Bồng. Cao lanh khá nhiều ở Sơn Tịnh, Sơn Hà, Bình Sơn, Tư Nghĩa. Đá vôi san hô có nhiều ở đảo Lý Sơn, là nguyên liệu phụ gia cần thiết để chế biến đường muỗng, đường phèn, đường cát trắng Vùng trung du: Hầu như đất đai được phát triển trên nền đá ong latêrit hóa.
Đất bazan phong hóa, đất cát, dat ruộng thung lũng thấp. Đắt ở đây thường bị bào mòn từ cao xuống thấp, có nhiều gò đồi, lắm sỏi đá. Do đó, vùng này thường là đất xám, đất bạc màu, đất đen nên rất thích hợp với các loại cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày như chè, mì, khoai lang, đậu, mía, lúa. Vùng đồng bằng Quảng Ngài: Đồng bằng Quảng Ngãi nhỏ hẹp nhưng khá đa dạng về hình thái.
Diện tích khoảng 160.678 ha, trong đó chỉ có 13.672 ha được bồi đắp phù sa thường xuyên bởi bồn hệ thống sông chính là sông Trà Bông, sông Trà Khúc, Sông 'Vệ và sông Trà Câu. Càng đi về phía nam, đồng bằng càng hẹp lại, chỉ còn là một rẻo. dọc bờ biển. Địa hình bề mặt đồng bằng Quảng Ngãi khá bằng phẳng, nghiêng thoải về phía đông, độ cao từ 2 - 30m [71, tr62].
Đắt ở đây thích hợp với các loại cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, đặc biệt là cây mía. Đồng thời đây còn là nơi chứa nước ngầm lớn nhất phục vụ nhu cầu đời sống, sản xuất của phần lớn cư dân Quảng Ngãi Vùng bãi cát ven biển: nhỏ hẹp với diện tích khoảng 2446,8 ha. Địa hình vùng bãi cát ven biển Quảng Ngãi có đặc điểm chung giống như các khu vực khác ở miền Trung, là sự hiện diện của các dải cát cao song song với đường bờ giữ vai trò như đê cát chắn sóng tự nhiên, bảo vệ phần đá phía sau các cồn cát. Ngoài ra, vùng cát Quảng Ngai còn có kiểu địa hình thá rất đặc trưng, đó là dạng địa hình đầm lầy bị bồi lắp Đất vùng này thích hợp với các loại cây khoai lang, mì, dừa, rừng phi lao có tác dụng làm đai phòng hộ chống cát bay, bồi lần Biển Quảng Ngãi dài hơn 130 km, nằm trong vùng nước sâu trũng của biển Đông, do đó có điều kiện phát triển mạnh.
Hơn nữa, vùng biển Quảng Ngãi còn chịu ảnh hưởng mạnh của các hướng gió mùa và các hiện tượng nhiễu động thời tiết cực đoan như bão, áp thấp nhiệt đới, giông lốc nên việc đánh bắt xa bờ gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, vùng biển Quảng Ngãi là nơi có nhiều loại hải sản như cá, mực, tôm, cua, hải sâm, rau câu. Bờ biển Quảng Ngai có những cửa biển thuận lợi cho tàu thuyền cập bến như cửa Sa Cần, cửa Sa Kỳ, cửa Cổ Lũy, cửa Lỡ, cửa Mỹ Á, cửa Sa Huỳnh. Khí hậu Cũng như cả nước, Quảng Ngãi nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa.
Một năm được chia làm hai mùa: mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng §. Trong mùa khô số giờ nắng bình quân là 6,4 giờ/ngày, đỉnh điểm là 9,9 giờ/ngày. Có năm nắng kéo dài liên tục từ tháng 3 ~ 4 tháng, gây ra hạn hán làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.Trong mùa khô thường có những trận mưa giông và gió nồm làm diệu bớt sự oi bức của mùa hè và làm cho cây cối tốt tươi [36, tr.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng Giêng năm sau. Hằng năm, ngày mưa từ 121 ngày đến 126 ngày, số ngày mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 10, tháng 11 [36, tr. 'Nhiệt độ trung binh hing nam 1a 25,3°C.Vao thời điểm nóng nhất của các tháng 6, 7, 8 nhiệt độ lên đến 40°C. Độ ẩm hằng năm là 83,9%.
Quảng Ngãi có những hướng. gió theo mùa như sau: từ tháng 3 đến tháng 9 thường xuyên có gió Đông Nam và Tây Nam. Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau có gió Đông Bắc. Nhiều năm cường độ gió.
mạnh thành bão [36, tr.33] Nhìn chung, khí hậu Quảng Ngãi có nhiều thuận lợi cho cây trồng và hoạt động của các nghề thủ công. Tháng nắng trong năm thuận lợi cho nghề làm gốm, nghề chế biến đường, kẹo, mạch nha.trong việc phơi nắng nguyên liệu, chế biến sản phẩm. Tuy nhiên, do độ ẩm cao nên dễ sinh sâu bệnh cho lúa, hoa màu và cây trái. Đồng thời những năm nắng hạn kéo dài gây tình trạng thiếu nước tưới cho cây trồng, mưa lũ mùa giông thường gây lụt lội, ngập úng.
- Thủy văn Trên địa bàn Quảng Ngãi, sông suối phân bố tương đối đều. Các sông có một số. đặc điểm như: bắt nguồn từ phía đông dãy Trường Sơn và đổ ra biển, sông chảy trên hai địa hình (đồi núi phức tạp và đồng bằng hẹp), sông ngắn và độ dốc lòng sông lớn bao gồm 4 sông chính: sông Trà Bỏng, sông Trả Khúc, sông Vệ và sông Trà Câu. Sông Trà Bông: Nằm ở phía Bắc tỉnh, bắt nguồn từ dãy núi phía tây của huyện Trà Bồng, chảy qua huyện Bình Sơn đổ ra cửa biển Sa Cần.
Sông dài khoảng 45 km, hướng chảy cơ bản từ tây sang đông. Phần lớn chảy qua địa hình rừng núi, phần còn lại chảy vào vùng đồng bằng xen đổi trọc và bãi cát. Phía thượng nguồn của sông Trà Bồng có nhiều phụ lưu như: suối Nún, suối Cà Đú, nhánh suối Sâu, nhánh suối Bí.[71, tr6S] Sông Trà Khúc: Nằm gần giữa tỉnh, đây là sông có lượng nước dỗi dào nhất so với các sông khác trong toàn tỉnh. Sông Trà Khúc dài khoảng 135 km, được hợp lưu bởi 4 con sông lớn là sông Rhe, sông Xà Lộ, sông Rinh, sông Tang chảy xuống hướng Đông.
qua ranh giới các huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Thành phố Quảng Ngãi và đỗ ra cửa biển Cổ Lũy. Sông Trà Khúc có lưu vực khoảng 3240 kmỶ, trên bề mặt lưu vực sông có khoảng, nửa diện tích kể từ nguồn là rừng già, còn lại là rừng thưa, vùng hạ lưu là đất canh tác và đồng bằng trồng lúa, mía chiếm diện tích khá lớn. Sông Vệ: Dài khoảng 90 km, phát nguyên từ vùng rừng núi phía tây của huyện Ba Tơ, chảy theo hướng tây nam - Đông Bắc qua các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Mộ Đức đỗ ra biển Đông tại cửa biển Cổ Lũy và cửa Đại Lợi. Sông Vệ có một chỉ lưu đáng kể nhất là sông Thoa, cung cắp lượng nước khá lớn cho đại bộ phận đồng lúa Mộ Đức.
Sông Trà Câu: dài khoảng 32 km, bắt nguồn từ rừng núi Ba Trang (huyện Ba Tơ) chảy xuyên qua huyện Đức Phổ để ra cửa biển Mỹ Á. Đây là con sông nhỏ nhất trong số các con sông nói trên, nước ở đây cũng thường xuyên cũng cạn kiệt vào mùa khô. Nhin chung, điều kiện tự nhiên và đặc điểm địa hình cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên đã tạo cho Quảng Ngãi có nhiều khả năng để phát triển kinh tế - xã hội. Đặc điểm xã hội 1.1 Dân cư Quảng Ngãi Nhìn chung dân cư trong tỉnh phân bố không đồng đều, vùng trung châu và ven biển đông đúc, còn miễn núi dân cư thưa thớt.
Trên địa bàn Quảng Ngãi có 4 dân tộc anh em sinh sống, bao gồm Kinh, Hrê, Cor và Ca Dong (một nhánh của dân tc Xo Đăng) [71, tr.145] Có thể nói, người Kinh hiện diện ở Quảng Ngai bat dau tir thé ky XV tro di, da sé la nhiing ngudi néng dan 6 ving déng bing Bac BO, ving Thanh ~ Nghé di cur vao khan hoang đất dai, lập thành làng mac. Dưới thời các chúa Nguyễn, một số người Hoa từ vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam (Trung Quốc) đến sinh sống ở Thu Xà, cửa biển Sa Cần, Sa Huỳnh và một số điểm ở trung du. Người Hoa đóng vai trò tương đối quan trọng trong sự phát triển kinh tế ở vùng đất Quảng Ngãi thời Nguyễn. Nhưng trải qua các cuộc chiến tranh, người Hoa phần nhiều đã phân tán đi nơi khác, phần hòa nhập vào cộng đồng người Việt, không còn các cộng đồng làng xã đặc thù.
10 ØỞ miền núi, dân cư có sự ổn định hơn.