Chương 1 : Tổng quan Chương 2 : Lý luận chung về lạm phát và tăng trưởng kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Chương 4 : Kết quả nghiên cứu Chương 5 : Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG II LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT & TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.1 Khái niệm về lạm phát Có nhiều phát biểu khác nhau về khái niệm lạm phát. Một số nhà kinh tế học cho rằng “lạm phát là hiện tượng tiền được cung ứng nhiều hơn mức cần thiết hoặc là do khối lượng tiền thực tế trong lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần thiết” hoặc cho rằng “lạm phát là quá nhiều tiền được bỏ ra để săn lùng quá ít hàng hoá”, “lạm phát là hiện tượng bội chi lâu dài của ngân sách nhà nước”, “lạm phát là một khối u ác tính, thể hiện sự nở phồng lên của tiền tệ”. Theo Milton Friedman (1970) “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Như vậy, có thể coi lạm phát là sự suy giảm sức mua của tiền tệ và được đo lường bằng sự gia tăng của mức giá chung trong nền kinh tế.2 Một số chỉ tiêu đo lường lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index) và Chỉ số điều chỉnh GDP là hai chỉ số đo lường lạm phát thường được sử dụng.
Hai chỉ tiêu này đều có những ưu điểm và nhược điểm, do vậy tùy vào tình hình cụ thể của mỗi quốc gia mà họ sử dụng chỉ tiêu đo lường lạm phát thích hợp.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ tiêu thống kê phản ánh mức độ biến động qua thời gian về giá cả của các loại hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng. CPI là giá của giỏ hàng hóa và dịch vụ này so với giá của giỏ hàng hóa và dịch vụ như vậy trong một năm cơ sở nào đó. Chỉ số giá tiêu dùng phụ thuộc vào rổ hàng hóa tiêu dùng và năm được chọn làm gốc. Ở Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng được Tổng cục Thống kê tính và công bố lần đầu vào năm 1998 (trước đó là chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ) với gốc so sánh được chọn là năm 1995.
Trên cơ sở xác định CPI bình quân, tỷ lệ lạm phát phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 được tính theo công thức: Mức giá hiện tại – Mức giá năm trước Tỷ lệ lạm phát = x 100% Mức giá năm trước Chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam thời kỳ 2009 - 2014 được tính theo công thức Laspeyres phù hợp với thông lệ quốc tế và công thức áp dụng tính CPI của các thời kỳ trước: Trong đó: Bảng 1.1: Quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ 2009 -2014 của Việt Nam Mã Các nhóm hàng hóa và dịch vụ Quyền số (%) C Tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng 100,00 01 I- Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 39,93 011 1. Ăn uống ngoài gia đình 7,40 02 II- Đồ uống và thuốc lá, 4,03 03 III- May mặc, mũ nón, giầy dép 7,28 04 IV- Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD 10,01 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 05 V- Thiết bị và đồ dùng gia đình 8,65 06 VI- Thuốc và dịch vụ y tế 5,61 07 VII- Giao thông 8,87 08 VIII- Bưu chính viễn thông 2,73 09 IX- Giáo dục 5,72 10 X- Văn hóa, giải trí và du lịch 3,83 11 XI- Hàng hóa và dịch vụ khác 3,34 (Nguồn: GSO) Nhược điểm chính của chỉ số này là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong tính toán. Mức độ bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa tiêu dùng và trọng số cố định dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ bản của người dân thành thị mua vào năm gốc. Nhược điểm thứ hai của chỉ số này là phản ánh sự biến động của giá hàng hóa tư bản, không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hóa tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hóa khác nhau theo thời gian.
Bên cạnh chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát còn được đo lường bằng chỉ số giá tiêu dùng cơ bản. Chỉ số giá tiêu dùng cơ bản cũng được tính toán như chỉ số giá tiêu dùng nhưng có hai nhóm hàng hóa bị loại ra khỏi rổ hàng hóa là lương thực thực phẩm và năng lượng do hai loại hàng hóa này có giá nhạy cảm, thường xuyên biến động nên sẽ làm cho việc đo lường lạm phát thực tế không chính xác.2 Chỉ số điều chỉnh GDP Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của một đơn vị sản lượng điển hình so với giá của nó trong năm cơ sở. Chỉ số điều chỉnh GDP còn được gọi là chỉ số điều chỉnh giá ngầm định của GDP, là tỷ lệ giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế. GDP danh nghĩa phản ánh giá trị của hàng hóa và dịch vụ tính bằng giá hiện hành.
GDP thực tế phản ánh giá trị của hàng hóa và dịch vụ tính theo giá cố định (của năm cơ sở). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá cả của tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra. Tuy nhiên, chỉ số điều chỉnh GDP chỉ bao gồm những hàng hóa được sản xuất trong nước nên chỉ số này không phản ánh trực tiếp sự biến động trong giá hàng nhập khẩu và chỉ số này chỉ tính được lạm phát của một năm sau khi có báo cáo về GDP của năm đó.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát. Các nguyên nhân này có thể xuất phát từ phía tổng cầu trong nền kinh tế, cũng có thể xuất phát từ phía tổng cung và cũng có thể là nguyên nhân xuất hiện đồng thời ở cả phía cung lẫn phía cầu.
Khi quan sát thực tế, người ta nhận thấy rằng, trong môi trường có lạm phát thì bản thân môi trường đó cũng có thể có khả năng và là nguyên nhân thúc đẩy hoặc tiếp tục gây ra một chu trình lạm phát mới, tức là tạo sự luẩn quẩn trong vòng xoáy lạm phát. Lạm phát do chi phí đẩy Trong hoàn cảnh sản xuất không tăng hoặc tăng ít trong khi chi phí tăng lên (chi phí sản xuất tăng vượt quá mức tăng của năng suất lao động) thì sẽ sinh ra lạm phát chi chí đẩy. Chi phí sản xuất tăng lên tạo áp lực “Đẩy” giá bán sản phẩm tăng lên hay làm giảm mức cung ứng hàng hoá của xã hội, như vậy lạm phát trong trường hợp này là do các yếu tố sản suất và tiêu thụ hàng hoá gây ra. Chi phí tăng lên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau: - Mức tăng tiền lương vượt quá mức tăng năng suất lao động: Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thường phải chịu rất nhiều áp lực về vấn đề tiền lương.
Trong ngắn hạn, chi phí nhân công ổn định do bị hạn chế bởi hợp đồng lao động song trong dài hạn do áp lực của công đoàn, do thuế thu nhập và các yếu tố TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 khác làm cho tiền lương nhân viên chịu sức ép nâng lên. Khi lương tăng, giá cả hàng hoá sẽ tăng. Quy trình này tác động bởi yếu tố hành chính, có nghĩa khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp phải tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận. Khi giá cả hàng hoá nói chung và tiêu dùng nói riêng tăng lên thì người lao động tìm mọi cách để tăng lương.
Khi lương tăng, giá cả lại tăng. Đến lượt mình, các doanh nghiệp lại tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận. Nhà kinh tế học người Scotland Adam Smith gọi sự vận hành của cơ chế này là đường xoáy trôn ốc. - Giá nhập khẩu tăng lên tác động trực tiếp tới giá cả trong nước (nếu là hàng tiêu dùng trực tiếp) hoặc tác động gián tiếp thông qua việc làm tăng chi phí sản xuất (nếu là đầu vào của quá trình sản xuất).
Giá hàng nhập khẩu tăng lên có thể do lạm phát của nước ngoài cao làm cho giá nguyên liệu ở nước xuất khẩu tăng, hay do đồng nội tệ bị mất giá so với đồng tiền của những nước có quan hệ mậu dịch… - Do thuế suất tăng lên làm ảnh hưởng tới mức sinh lời của các nhà đầu tư nên đẩy giá cả tăng lên. Để duy trì mức sinh lời mong muốn, hoặc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ lợi nhuận bằng biện pháp tăng giá bán hàng hoá sẽ làm cho giá cả tăng, việc tăng giá trong trường hợp này mang tính chất hành chính tích cực nhằm duy trì lợi nhuận ở mức mong muốn. Việc này thường xảy ra trong điều kiện độc quyền. Một số nước gọi là “lạm phát hành chính”.
Lạm phát do cầu kéo Lạm phát cầu kéo hay lạm phát nhu cầu là lạm phát xảy ra do tổng cầu tăng vượt quá mức cung hàng hóa của xã hội, dẫn đến áp lực làm tăng giá cả. Tổng cầu trong nền kinh tế bao gồm : AD = C + G + I +X – M Trong đó : C: Chi tiêu gia đình G: Chi tiêu Chính phủ I: Đầu tư nền kinh tế X: Nhu cầu hàng hóa cho xuất khẩu M: Lượng hàng hóa nhập khẩu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng cầu tăng có thể do một hoặc một số yếu tố trong vế bên phải của biểu thức tăng lên: Chính phủ tăng các khoản chi tiêu cho an ninh quốc phòng, các khoản đầu tư làm cho tổng cầu tăng. Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn ở trong nước, ngoài nước hoặc NHTƯ.
Các hộ gia đình tăng chi tiêu do mức thu thập tăng hoặc được Chính phủ giảm thuế, tăng trợ cấp. Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự gia tăng tốc độ lưu thông tiền tệ. Nếu dân chúng có khuynh hướng thích tiêu dùng, tốc độ lưu thông tiền tệ gia tăng. Đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên do dự đoán về triển vọng phát triển kinh tế trong nước và cả ngoài nước hay do lãi suất giảm.
CSTT mở rộng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, người dân dễ tiếp cận nguồn vốn, có thể vay dễ dàng hơn, vay nhiều hơn dẫn đến nhu cầu chi tiêu nhiều hơn.