phần mở đầu, mục lục, danh mục các bảng biểu, danh mục các từ viết tắt, kết luận và tài liệu than khảo, luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan về xử lý ảnh dựng mô hình 3D Gan Chƣơng 2: Một số kỹ thuật trong dựng mô hình 3d Gan từ ảnh CT Chƣơng 3: Cài đặt và thử nghiệm 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ ẢNH TRONG DỰNG MÔ HÌNH 3D GAN Nội dung chính trong chương này sẽ trình bày khái quát về ảnh y khoa, xử lý ảnh y khoa, một số thuật toán cơ bản trong xử lý ảnh cũng như trong xử lý ảnh y khoa. Tìm hiểu cấu tạo mô hình 3D, một số nghiên cứu về vấn đề dựng mô hình 3D của Gan từ dữ liệu ảnh CT trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Bên cạnh đó, cũng nêu ra một số vấn đề trong xử lý ảnh y tế CT.
DỮ LIỆU ẢNH SỐ Y KHOA 1. Giới thiệu Công nghệ điện tử đã và đang phát triển rất nhanh trong hơn một thập niên gần đây, nhờ đó các thiết bị máy tính, máy ảnh và y tế cũng đƣợc phát triển với nhiều chức năng tiện nghi, tốc độ và hiện đại hơn. Trong đó, máy tính đã trở thành một phần không thể tách rời của hệ thống hình ảnh y tế và đƣợc sử dụng cho việc thu thập dữ liệu ảnh để hiển thị và phân tích. Từ đó, nhiều thiết bị y tế nhƣ máy chụp X-quang, máy chụp ảnh cắt lớp (CT scanner), chụp cộng hƣởng từ (MRI), chụp cắt lớp phát xạ (PET/CT) và những loại ảnh y tế khác đã đƣợc áp dụng những phƣơng pháp xử lý hiện đại để cho ra ảnh rõ nhất có thể, để giúp các bác sĩ trong việc chẩn đoán.
Sự phát triển của công nghệ hình ảnh ngày càng tăng, các kỹ thuật tiên tiến, do vậy, luôn đƣợc áp dụng để giải quyết những vấn đề rất thách thức trong chẩn đoán ảnh y tế hiện nay. Xử lý ảnh đã có từ lâu và những ứng dụng của nó là rất nhiều trong cuộc sống dân sự, quân sự, y tế và nhiều lĩnh vực khác [1]. Ứng dụng của xử lý ảnh có khả năng tác động mạnh mẽ nhất đến cuộc sống của chúng ta là trong lĩnh vực y tế. Soi chụp bằng máy tính dựa trên cơ sở định lý cắt lớp (projection_slice) đƣợc dùng thƣờng xuyên trong xét 5 nghiệm lâm sàng, ví dụ nhƣ phát hiện và nhận dạng u não.
Những ứng dụng y học khác của xử lý ảnh số gồm cải thiện ảnh X-quang và nhận dạng đƣờng biên mạch máu từ những ảnh chụp mạch bằng tia X(angiograms). Ảnh sau khi đƣợc tái tạo chƣa thể sử dụng ngay đƣợc, ảnh hƣởng đến chất lƣợng, gây khó khăn cho việc chẩn đoán bệnh. Thu nhận Tiền xử lý Biểu diễn Nhận ảnh ảnh và mô tả dạng và nội suy Cơ sở tri thức Hình 1. Các bƣớc cơ bản trong xử lý ảnh y khoa [2] Do vậy cần phải sử dụng nhiều phƣơng pháp xử lý ảnh để nâng cao chất lƣợng ảnh.
Các bƣớc cần thiết trong xử lý ảnh nhƣ sau: * Phần thu nhận ảnh (Image Acquisition) Qua các camera (tƣơng tự,số). - Từ vệ tinh qua các bộ cảm ứng(Sensors). - Qua các máy quét ảnh(Scaners). Các thiết bị thu nhận này có thể cho ảnh đen trắng.
Các thiết bị thu nhận ảnh có 2 loại chính ứng với 2 loại ảnh thông dụng là Raster và Vector. Nhìn chung các hệ thống thu nhận ảnh thực hiện quá trình đó là Cảm biến nhằm biến đổi năng lƣợng quang học thành năng lƣợng điện và sau đó là Tổng hợp năng lƣợng điện thành ảnh. * Tiền xử lý (ImagePreprocessing) Sau bộ thu nhận, ảnh có thể bị nhiễu, mờ, không sắc nét nên cần đƣa vào 6 bộ tiền xử lý để nâng cao chất lƣợng. Chức năng chính của bộ tiền xử lý là lọc nhiễu, nâng dần độ tƣơng phản để làm ảnh rõ hơn, nét hơn.
* Phân đoạn (Segmentation) hay phân vùng ảnh Phân vùng ảnh là tách một ảnh đầu vào thành các vùng thành phần để biểu diễn phân tích, nhận dạng ảnh. Ví dụ: để nhận dạng chữ (hoặc mã vạch) trên phong bì thƣ cho mục đích phân loại bƣu phẩm, cần chia các câu, chữ về địa chỉ hoặc tên ngƣời thành các từ, các chữ, các số (hoặc các vạch) riêng biệt để nhận dạng. Đây là phần phức tạp khó khăn nhất trong xử lý ảnh và cũng dễ gây lỗi, làm giảm độ chính xác của ảnh. Kết quả nhận dạng ảnh phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn này.
* Biểu diễn ảnh (ImageRepresentation) Ảnh trên máy tính là kết quả thu nhận theo các phƣơng pháp số hoá đƣợc nhúng trong các thiết bị kỹ thuật khác nhau. Quá trình lƣu trữ ảnh nhằm 2 mục đích. Trƣớc hết là để tiết kiệm bộ nhớ và sau đó là giảm thời gian xử lý. Việc lƣu trữ thông tin trong bộ nhớ có ảnh hƣởng rất lớn đến việc hiển thị, in ấn và xử lý ảnh đƣợc xem nhƣ là một tập hợp các điểm với cùng kích thƣớc nếu sử dụng càng nhiều điểm ảnh thì bức ảnh càng đẹp, càng mịn và càng thể hiện rõ hơn chi tiết của ảnh ngƣời ta gọi đặc điểm này là độ phân giải.
Việc lựa chọn độ phân giải thích hợp tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng và đặc trƣng của mỗi ảnh cụ thể. * Nhận dạng và nội suy ảnh (Image Recognition andInterpretation) Nhận dạng ảnh là quá trình xác định ảnh. Quá trình này thƣờng thu đƣợc bằng cách so sánh với mẫu chuẩn đã đƣợc học (hoặc lƣu) từ trƣớc. Nội suy là phán đoán theo ý nghĩa trên cơ sở nhận dạng.
Có nhiều cách phân loại ảnh khác nhau về ảnh. Theo lý thuyết về nhận dạng, các mô hình toán học về ảnh đƣợc phân theo hai loại nhận dạng ảnh cơ bản: Nhận dạng theo tham số. 7 Nhận dạng theo cấu trúc. Một số đối tƣợng nhận dạng khá phổ biến hiện nay đang đƣợc áp dụng trong khoa học và công nghệ là: nhận dạng ký tự (chữ in, chữ viết tay, chữ ký điện tử), nhận dạng văn bản (Text), nhận dạng vân tay, nhận dạng mã vạch, nhận dạng mặt ngƣời… * Cơ sở tri thức (KnowledgeBase) Nhƣ đã nói ở trên, ảnh là một đối tƣợng khá phức tạp về đƣờng nét, độ sáng tối, dung lƣợng điểm ảnh, môi trƣờng để thu ảnh phong phú kéo theo nhiễu.
Trong nhiều khâu xử lý và phân tích ảnh ngoài việc đơn giản hóa các phƣơng pháp toán học đảm bảo tiện lợi cho xử lý, ngƣời ta mong muốn bắt chƣớc quy trình tiếp nhận và xử lý ảnh theo cách của con ngƣời. Trong các bƣớc xử lý đó, nhiều khâu hiện nay đã xử lý theo các phƣơng pháp trí tuệ con ngƣời. Vì vậy, ở đây các cơ sở tri thức đƣợc pháthuy. * Mô tả (biểu diễnảnh) Từ Hình 1.1, ảnh sau khi số hoá sẽ đƣợc lƣu vào bộ nhớ, hoặc chuyển sang các khâu tiếp theo để phân tích.
Nếu lƣu trữ ảnh trực tiếp từ các ảnh thô, đòi hỏi dung lƣợng bộ nhớ cực lớn và không hiệu quả theo quan điểm ứng dụng và công nghệ. Thông thƣờng, các ảnh thô đó đƣợc đặc tả (biểu diễn) lại (hay đơn giản là mã hoá) theo các đặc điểm của ảnh đƣợc gọi là các đặc trƣng ảnh (Image Features) nhƣ: biên ảnh (Boundary/Egde), vùng ảnh (Region). Một số phƣơng pháp biểu diễn thƣờng dùng: - Biểu diễn bằng mã chạy (Run-LengthCode) - Biểu diễn bằng mã xích (Chaine-Code) - Biểu diễn bằng mã tứ phân (Quad-TreeCode) 1. Khái niệm ảnh y khoa và dữ liệu ảnh CT Gan Ảnh y tế là kỹ thuật và quá trình đƣợc sử dụng để tái tạo ra hình ảnh cơ thể con ngƣời hoặc bộ phận cơ thể ngƣời phục vụ cho mục đích lâm sàng và 8 cận lâm sàng nhƣ chẩn đoán bệnh, kiểm tra bệnh hoặc khoa học y tế (bao gồm cả giải phẫu và sinh lý).
Ảnh y tế theo nghĩa rộng của nó có nghĩa là một phần narh sinh học và kết hợp X-quang, y học hạt nhân, nội soi, … dùng trong chẩn đoán bệnh lý con ngƣời. Ảnh CT Gan là một kỹ thuật áp dụng đồng thời kỹ thuật X – quang và kỹ thuật máy tính để phân tích hình ảnh Gan trong ổ bụng thông qua các lớp cắt của tia X – quang để chẩn đoán bệnh Gan. Khi Gan bị bệnh, các tổ chức trong gan sẽ bị biến đổi, dẫn đến sự biến đổi tỷ trọng chung của Gan. Vì vậy, hình ảnh các lớp cắt qua kỹ thuật chụp cắt lớp cũng sẽ thể hiện khác biệt so với gan bình thƣờng, dựa vào nguyên lý này mà các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh có thể chẩn đoán bệnh về gan một cách chính xác nhất.
Một số chuẩn hình ảnh y khoa Các máy thiết bị và máy y tế chẩn đoán hình ảnh đầu tiên khi mới ra đời chỉ là tín hiệu dạng sóng (Analog) đƣa lên màn hình VIDEO của máy. Theo thời gian, máy đƣợc chế tạo ngày càng có cấu hình cao hơn và chuyển dần sang tín hiệu số, các phần mềm xử lý tín hiệu lƣu trữ thông tin số ngay tại các máy đó (ví dụ máy siêu âm có thể lƣu đƣợc 5000 ảnh của bệnh nhân gần đây nhất).Tuy nhiên, dần từng bƣớc khi có các điều kiện đặt ra và nhu cầu giao tiếp giữa các máy với nhau (ví dụ: máy CT Scanner chuyển cho máy chiếu tia Coban.) và truyền ảnh số giữa các vùng với nhau để trợ giúp chẩn đoán thì các chuẩn dữ liệu chung về hình ảnh của y tế dần ra đời. Vì vậy, các máy y tế ngày nay có gắn thiết bị tin học thì đã sẵn sàng đƣa ra các tín hiệu thông qua các D-Shell chuẩn nhƣ COM, LPT. hoặc USB port.
Tuy nhiên, phần tín hiệu đƣa ra các cổng này tuỳ nhà cung cấp trang bị phần mềm khi ngƣời sử dụng yêu cầu. Tuy nhiên có nhiều chuẩn để truyền ảnh trên mạng nhƣ chuẩn PACS (Picture Archiving and Communication System) là hệ thống lƣu trữ, xử lý và truyền ảnh động, hoặc mạng xử lý và truyền ảnh số hoá DICOM (Digital 9 Imaging and Communications in Medicine). Tất cả các chuẩn này có chung một tiêu chí là nén ảnh ở mức độ tối đa để giảm kích thƣớc lƣu trữ, giảm kích thƣớc khi truyền trên mạng, có các mức độ phân giải khác nhau khi truyền. Nếu hình ảnh không cần chất lƣợng cao thì có thể truyền ở độ phân giải thấp và khi cần độ nét để chẩn đoán với chất lƣợng cao thì truyền ảnh với các độ phân giải cao hơn, nhƣng tốc độ truyền trên mạng sẽ chậm đi nhiều.
Các ảnh truyền thƣờng là các ảnh về X quang, ảnh siêu âm, ảnh nội soi, ảnh CT Scanner. Việc truyền ảnh này giúp cho hỗ trợ chẩn đoán từ xa, cho các thầy thuốc, học viên, sinh viên học tập và nghiên cứu.