đặt vấn đề hợp đồng với nhà cung cấp, những hợp đồng này phải được đo lường và quản lý. Do khuynh hướng thu hẹp dần số lượng nhà cung cấp nên những hoạt động của nhà cung cấp được chọn lựa rất quan trọng. Một nhà cung cấp có thể là một nguồn duy nhất cung cấp tắt cả danh mục sản phẩm mà công ty cần. Nếu nhà cung cắp này không đáp ứng những nguyên tắc thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ gây thiệt hại rất nặng nề cho công ty.
Công ty cần có khả năng đánh giá hiệu quả hoạt động nhà cung cấp và kiểm soát mức đáp ứng dịch vụ cung ứng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Tương tự như quản lý kênh tiêu thụ, nhân viên trong công ty phải thường xuyên thu thập dữ liệu về tính hiệu quả của nhà cung cấp. - Tổ chức xây dựng, điều phối hoạt động mạng lưới cung cấp và các các hoạt động vận chuyển bên trong (từ nhà cung cấp đến nhà máy và ngược lại). - Kiểm soát nguồn nguyên liệu.
Bảo đảm chất lượng nguồn hàng. Cung cấp thông tin kỹ thuật cần thiết cho các nhà cung cấp. ~ Xây dựng mỗi quan hệ với các nhà cung cấp. Theo Brian Fynes mối quan hệ bền vững với các nhà cung cấp phải được thiết lập dựa trên các yếu tố: Sự thật Sự thích nghỉ Thông tin Mối quan hệ Sự phụ thuộc bền vững lẫn nhau Sự liên kết Sự thỏa mãn Sự tận tụy Hình 1 Các yếu tố tạo nên mối quan hệ bền vững.
+ Sự thật: nhất là trong thông tin, muốn có quan hệ lâu dài và bền chặt thì các 'bên phải có thê tin cậy lẫn nhau. + Sự thích nghỉ: Mỗi công ty phải có cấu trúc tương đối linh hoạt để có thể tương thích với hoạt động của các công ty khác nhau 13 * Thông tin: Là yếu tố không thể thiếu được trong bất kỳ mối quan hệ nào. Mức độ hợp tác giữa các công ty thể hiện ở mức độ chia sẻ thông tin. + Sự phụ thuộc lẫn nhau: Các thành viên phải có sự rang buộc lẫn nhau về lợi nhuận hay mục tiêu.
Họ phải dựa vào các nguồn lực của nhau đẻ bù vào các điểm yếu của mình. + Sự tận tụy: Để đạt được mục tiêu chung, mỗi bên phải nỗ lực để đạt được nó, đôi khi họ phải đánh đổi những lợi ích nội tại trước mắt với những cơ hội tiềm tàng mà các doanh nghiệp kỳ vọng có được khi liên kết với đối tác khác. + Sự liên kết: Cách thức liên kết rất khác nhau tuỳ theo thế mạnh của mỗi thành viên. Phần lợi thu được từ các mối quan hệ này tuỳ thuộc vào tỷ trọng đóng góp và vị thể của các bên.
+ Sự thỏa mãn: Các doanh nghiệp liên kết nhau không ngoài mục tiêu tăng. lợi ích của chính bản thân họ (hai bên cùng có lợi). Sự thay đổi quan hệ từ đối tác này sang đối tác khác cũng vì lợi ích thu được từ các mối quan hệ này khác nhau. Tổ chức quá trình sản xuất Trong chuỗi cung ứng, tổ chức quá trình sản xuất (make) thường được phân tích ở công ty trung tâm, nơi mà nguyên liệu và bán thành phẩm được tập trung từ các nguồn dé tao thành sản phẩm cuối cùng theo kế hoạch.
Nó bao gồm cả hoạt đông thiết kế, thử nghiệm sản phẩm mới, đóng kiện, lưu trữ Sản phẩm khác nhau được sản xuất từ nhu cầu sử dụng khác nhau và môi trường sản xuất những sản phẩm này cũng rất khác nhau. Quá trình sản xuất được bố trí sau quá trình thu mua và trước phân phối sản phẩm. Quá trình này được phân. tích thành 3 dạng là: Sản xuất tồn kho MTS (Make To Stock), sản xuất theo đơn hàng MTO (Make To Order), thiết kế theo đơn hàng ETO (Engineer to Order), Dạng lắp ráp theo đơn hàng ATO (Assemply to Order) là dạng đặc biệt của MTO.
Các chiến lược quản lý sản xuất tương ứng: + Sản xuất tồn kho (MTS: Make To Stock): là một môi trường sản xuất mà sản phẩm được hoàn thành trước khi nhận được đơn đặt hàng của người mua. trình sản xuất ở Công ty đường Quảng Ngãi thực hiện theo chiến lược này. + Lam theo don hang (MTO: Make To Order): là một môi trường sản xuất mà hàng hóa hoặc dịch vụ được tạo ra sau khi nhận được yêu cầu của khách hàng. 14 * Thiết kế theo yêu cầu (ETO: Engineer To Order): khach hang yéu cau nha sản xuất thực hiện thiết kế toàn bộ các đặc điểm kỹ thuật cũng như QT sản xuất + Lắp ráp theo đơn hàng (ATO: Assemble-to-order): là môi trường sản xuất nơi hàng hóa hoặc dịch vụ được lắp ráp sau khi nhận được yêu cầu của người mua.1: Mô tả sự khác nhau giữa các dạng sẵn xuất Kích cỡ lô Chủngloại | Các vấnđồ Dạng Đặc điểm hàng hàng hải đối phó Khó dự báo.
Sản phẩm thường có Thiếu ổn định trước đơn hàng. Tồn kho MTS Lớn nhất Ít nhất Sản xuất không ổn nguyên liệu đỉnh và thành phẩm lớn Các bộ phận của các thành phẩm được tồn Tồn kho phụ ATO Í kho và khi được mua Lớn It tùng sản nó sẽ lắp ráp lại thành phẩm lớn. MTO _ Í sản xuất được thực Nhỏ Nhiều Phải đối phó hiện và vấn đề theo đơn hàng yêu cầu thời gian đáp Sản phẩm phải có ứng những. Sản phẩm đặc tính đáp ứng được nhiều chủng /êu cầu của những.
loại 15 khách hàng khác nhau Tồn kho Là dạng đặc biệt của nguyên liệu MTO, trong đó phần lớn ETO 'Nhỏ nhất Nhiều nhất thiết kế thuộc về nhà Sản phẩm. sản xuất nhiều chủng loại 1. Phân phối sản phẩm - Phân phối là một trong những hoạt động quan trọng trong chuỗi cung ứng, nối liền doanh nghiệp và khách hàng. Bản chất của phân phối là làm thay đổi vị trí của sản phẩm từ nhà sản xuất đến khách hàng cuối cùng.
Doanh nghiệp thường cố định, còn khách hàng thì hầu hết ở khắp nơi, nếu không có hoạt động phân phối thi sản phẩm khó có thể đến tay khách hàng nơi xa. Quá trình này được chia làm 3 quá trình riêng là phân phối hàng tồn kho, phân phối sản phẩm làm theo đơn hàng, phân phối sản phẩm thiết kế theo đơn hàng. Đối với dạng sản xuất hàng tồn kho, việc phân phối sản phẩm chỉ thực hiện sau khi tìm được thị trường, khách hàng có yêu cầu mua hàng thì kế hoạch giao hàng mới được thiết lập. Khi đó, giống với 2 dạng sản xuất còn lại, cách thức giao.
hàng sẽ do thoả thuận 2 bên và thể hiện trên hợp đồng mua bán. Có 2 vấn đẻ cần quan tâm trong quá trình phân phối hàng hoá là: Tô chức quản lý mạng lưới phân phối và vận chuyên hàng hoá từ nhà máy đến người tiêu dùng. ~ Các dạng kênh phân phối: Trong kênh phân phối mỗi trung gian chuyên môn hóa thực hiện một công việc nhất định để đưa sản phẩm tới gần người tiêu dùng và họ tạo thành một cấp của kênh. Tuỳ vào số lượng trung gian tham gia kênh, sẽ có các dạng kênh phân phối khác nhau, có thể mô tả trong sơ đồ sau: 16 Keanh - NGÖÔ NGÖÔ tröïc Oo si.
dieện ØI SX ˆ ØI TD ` NGÖÔ > ` »ị NGÖÔ ruut ØISX I BAÙN ØITD % NGÖÔØ Kah rN&BÓø¬ x NGOO I ` »ị NGÖÔ ñaày | >| 1 BAUN __ | @ISX BBUOA trữ ØI TD KBäfh Ba&c NGOO | „| MOAI >| ÑAÏ „ị NGÖÔ | ISX GIÔÙI LYÙ ØI TD bieät Hình 1.6: Các dạng kênh phân phối + Kênh trực tiếp (không cấp): Người sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng không qua trung gian. Những hình thức bán hàng trực tiếp gồm: Bán hàng lưu động, đặt hàng qua bưu điện, bán qua cửa hàng bán lẻ của nhà sản xuất. Kênh trực tiếp có ưu điểm giúp người sản xuất nắm bắt kịp thời thông tin thị trường và yêu cầu của khách hàng, có thể giảm chỉ phí phân phối để hạ giá bán và tăng lợi nhuận. Tuy nhiên nó không thực hiện được nhiệm vụ chuyên môn hoá, người sản xuất thực hiện thêm chức năng bán hàng nên dàn trải lực lượng, tăng thêm đầu mối phức tạp, vốn chậm luân chuyển.
Do đó, kênh này chỉ sử dụng hạn chế trong một số trường hợp: Hàng hóa có tính chất thương phẩm đặc biệt, sản phẩm có giá trị kinh tế cao, yêu cầu kỹ thuật và dịch vụ hỗ trợ phức tạp, sản pham có tính chất tiêu dùng địa phương. + Kênh rút gọn (1 cấp): Người sản xuất bán hàng qua một trung gian (Người bán lẻ) để họ bán lại cho người tiêu dùng. Ưu thế của kênh này là giải phóng được chức năng lưu thông, giúp người sản xuất nâng cao trình độ chuyên môn hoá và tập trung năng lực cho sản xuất. Vì số cấp của kênh ngắn nên người sản xuất vẫn có thê kiểm soát được quá trình lưu thông sản phẩm.
+ Kênh đầy đủ: Có 2 trung gian tham gia vào quá trình phân phối (Người bán buôn, Người bán lẻ). Kênh này thường sử dụng với những mặt hàng có qui mô lớn, tiêu thụ trên địa bàn rộng. Nó tạo điều kiện cho nhà sản xuất tập trung nâng cao khả 17 năng chuyên môn, nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, rút ngắn chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời các trung gian có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn hoá trong tổ chức tiêu thụ ở công đoạn của mình.
Nhưng vì kênh dài nên rủi ro thường lớn, chỉ phí toàn kênh cao, việc thu nhận thông tin về người tiêu dùng cuối cùng và việc điều hành kênh, kiểm soát các trung gian sẽ trở nên khó khăn hơn. + Kênh đặc biệt: Nằm giữa các nhà sản xuất, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng còn có thêm một sô trung gian đặc biệt như đại lý, môi giới. Đối với một số loại sản phẩm hay một số nhà sản xuất, việc sử dụng kênh đặc biệt trở nên it quan trọng. Vì các đại lý bên ngoài thường đông hơn lực lượng bán của sản xuất, họ có nhiều kiến thức thương trường hơn nên có thể bao quát thị trường.
Với các nhà sản xuất không có lực lượng bán thì đại lý có giá trị đặc biệt thay thế cho lực lượng bán bên ngoài của họ. Tuy nhiên đại lú thường là đại diện cho nhiều nhà sản xuất hơn là cho một nhà sản xuất và họ không hiểu rõ những chỉ tiết kỹ thuật về sản phẩm như lực lượng bán của công ty nên khi sử dụng họ cần có sự huẳn luyện chu đáo. Quản trị tần kho: Trong chuỗi cung ứng ở những công ty khác nhau, quản trị tồn kho là sử dụng tập hợp các kỹ thuật để quản lý mức tồn kho.