Luận văn thạc sĩ: Phát triển nông nghiệp ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển nông nghiệp huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, phân tích tiềm năng và giải pháp phát triển bền vững.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
124
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh phát triển nông nghiệp ở huyện Bố Trạch Quảng Bình

Nông nghiệp là ngành kinh tế nền tảng, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu kinh tế của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Với vị trí địa lý chiến lược, là cửa ngõ phía Bắc của thành phố Đồng Hới, Bố Trạch sở hữu điều kiện tự nhiên đa dạng bao gồm cả vùng đồng bằng, trung du, miền núi và ven biển. Điều này tạo ra tiềm năng to lớn cho việc đa dạng hóa sản xuất và phát triển nông nghiệp bền vững. Giai đoạn 2014-2018, ngành nông nghiệp của huyện đã có những bước chuyển mình, tuy nhiên vẫn chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có. Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Nguyễn Thanh Sang (2020) đã đi sâu phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp và đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Bố Trạch có diện tích tự nhiên lớn, 211.548,88 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, là tư liệu sản xuất không thể thay thế. Huyện có 24km bờ biển và hệ thống sông ngòi phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. Tuy nhiên, đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa cũng đặt ra nhiều thách thức như bão lụt và hạn hán, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế nông nghiệp. Nguồn lao động dồi dào với 66,13% dân số làm việc trong ngành nông nghiệp là một lợi thế, nhưng chất lượng nguồn nhân lực và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu các giải pháp toàn diện để phát triển nông nghiệp ở huyện Bố Trạch không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn góp phần ổn định xã hội, nâng cao đời sống người dân và thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới.

1.1. Vị trí chiến lược và vai trò của kinh tế nông thôn Bố Trạch

Huyện Bố Trạch có vị trí địa lý thuận lợi, hội tụ đủ các loại hình giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc - Nam và cảng Gianh. Hệ thống này tạo thành một mạng lưới kết nối liên hoàn, là điều kiện lý tưởng cho việc giao thương, vận chuyển vật tư và tiêu thụ nông sản. Vị trí này không chỉ giúp kết nối thị trường trong tỉnh mà còn mở ra cơ hội giao thương với các địa phương khác trong cả nước và quốc tế qua cửa khẩu Cà Roòng. Kinh tế nông thôn đóng vai trò trụ đỡ, đảm bảo an ninh lương thực và là nguồn thu nhập chính cho đại bộ phận dân cư. Sự phát triển của nông nghiệp trực tiếp thúc đẩy các ngành nghề phụ trợ, dịch vụ, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế địa phương một cách ổn định.

1.2. Phân tích các nguồn lực phát triển nông nghiệp trọng yếu

Các nguồn lực phát triển nông nghiệp của Bố Trạch bao gồm tài nguyên đất, nước và con người. Theo số liệu thống kê đến 31/12/2018, huyện có 196.401,12 ha đất nông nghiệp, đa dạng về thổ nhưỡng với các nhóm đất phù hợp cho nhiều loại cây trồng khác nhau, đặc biệt là diện tích đất đỏ vàng lớn (109.850 ha) thích hợp cho cây công nghiệp dài ngày như cao su. Hệ thống sông ngòi, hồ đập phong phú là nguồn cung cấp nước tưới tiêu quan trọng. Về nhân lực, dân số huyện năm 2018 là 185.458 người, phần lớn sống ở khu vực nông thôn và tham gia sản xuất nông nghiệp. Đây vừa là lợi thế về số lượng lao động, vừa là thách thức về việc nâng cao trình độ, tay nghề để đáp ứng yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại.

II. Thách thức trong phát triển nông nghiệp Bố Trạch 2014 2018

Bên cạnh những tiềm năng, quá trình phát triển nông nghiệp ở huyện Bố Trạch giai đoạn 2014-2018 đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Theo phân tích từ luận văn của Nguyễn Thanh Sang, thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, chủ yếu dựa trên quy mô kinh tế hộ gia đình. Hiệu quả sản xuất chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng đất đai và lao động. Một trong những rào cản lớn nhất là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm và lúng túng. Người dân vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các cây trồng truyền thống, giá trị kinh tế thấp. Việc áp dụng các mô hình sản xuất hàng hóa, theo chuỗi giá trị nông sản còn hạn chế, dẫn đến tình trạng "được mùa mất giá" thường xuyên xảy ra. Đầu tư cho nông nghiệp còn thấp, người dân và doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư do rủi ro cao từ thiên tai và thị trường. Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp ngày càng rõ rệt, các trận bão lớn và mưa lũ gây thiệt hại nặng nề, trong khi hạn hán vào mùa khô gây thiếu nước tưới. Hơn nữa, sự liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa nông dân và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, chủ yếu qua trung gian thương lái nên người sản xuất thường bị ép giá. Hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất như hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng chưa được đầu tư đồng bộ. Đây là những nút thắt cần được tháo gỡ để nông nghiệp Bố Trạch có thể phát triển đột phá và bền vững.

2.1. Phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp và những hạn chế

Thực trạng sản xuất nông nghiệp tại Bố Trạch cho thấy quy mô sản xuất còn nhỏ, phân tán. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp và cơ giới hóa còn nhiều hạn chế, dẫn đến năng suất lao động thấp. Theo luận văn, diện tích đất bỏ hoang qua các vụ còn nhiều, cho thấy hiệu quả sử dụng đất chưa cao. Chất lượng nông sản chưa đồng đều, chưa xây dựng được thương hiệu mạnh cho các sản phẩm chủ lực của địa phương. Tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo thấp cũng là một rào cản lớn trong việc tiếp thu và áp dụng các quy trình kỹ thuật canh tác tiên tiến.

2.2. Vấn đề liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản còn yếu kém

Khâu liên kết sản xuất và tiêu thụ được xác định là điểm yếu chí tử của nông nghiệp Bố Trạch. Phần lớn nông sản được tiêu thụ qua các kênh không chính thức, thiếu hợp đồng bao tiêu ổn định. Mối liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) chưa phát huy hiệu quả. Điều này khiến người nông dân rơi vào thế bị động, phụ thuộc hoàn toàn vào biến động của thị trường và tư thương. Việc thiếu liên kết cũng làm cản trở quá trình hình thành các vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn, đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn thực phẩm cho các thị trường khó tính.

III. Cách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Bố Trạch hiệu quả

Để giải quyết các thách thức, một trong những giải pháp trọng tâm cho việc phát triển nông nghiệp ở huyện Bố Trạch là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả. Quá trình này không chỉ là sự thay đổi về tỷ trọng giữa các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản mà còn là sự tái cơ cấu sâu sắc trong nội bộ từng ngành. Định hướng chung là giảm dần tỷ trọng nông nghiệp thuần túy, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Trong trồng trọt, cần chuyển đổi từ các loại cây lương thực có giá trị thấp sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với lợi thế của từng vùng và đáp ứng nhu cầu thị trường. Phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh là yêu cầu tất yếu. Việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn như VietGAP, GlobalGAP cần được khuyến khích để nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh cho nông sản. Hướng tới một nền phát triển nông nghiệp bền vững, Bố Trạch cần chú trọng các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, vừa tạo ra sản phẩm chất lượng, vừa bảo vệ môi trường sinh thái. Quá trình chuyển dịch này đòi hỏi phải có quy hoạch rõ ràng, chính sách hỗ trợ cụ thể từ chính quyền địa phương và sự đồng thuận, tham gia tích cực của người dân.

3.1. Tái cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa

Việc tái cơ cấu cây trồng vật nuôi cần dựa trên lợi thế so sánh của từng tiểu vùng. Đối với vùng gò đồi, cần tập trung phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả có giá trị cao. Vùng đồng bằng ưu tiên thâm canh lúa chất lượng cao, kết hợp trồng rau màu, hoa cây cảnh. Vùng ven biển tập trung vào nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp, bền vững. Trong chăn nuôi, cần chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang mô hình trang trại, gia trại tập trung, áp dụng quy trình an toàn sinh học để kiểm soát dịch bệnh và nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp.

3.2. Hướng đi mới Phát triển nông nghiệp công nghệ cao và bền vững

Nông nghiệp công nghệ cao là xu thế tất yếu để tạo ra sự đột phá. Cần khuyến khích đầu tư vào các mô hình nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tiêu tự động, sử dụng giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao. Phát triển nông nghiệp bền vững không chỉ tập trung vào hiệu quả kinh tế mà còn phải quan tâm đến các yếu tố xã hội và môi trường. Các mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn cần được nhân rộng để giảm thiểu việc sử dụng hóa chất, bảo vệ tài nguyên đất và nước, tạo ra các sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng.

IV. Bí quyết tăng cường nguồn lực phát triển nông nghiệp bền vững

Nền tảng cho mọi sự phát triển chính là nguồn lực. Để thực hiện thành công việc tái cơ cấu và hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp ở huyện Bố Trạch cần một chiến lược toàn diện nhằm tăng cường các nguồn lực phát triển nông nghiệp. Các nguồn lực này bao gồm vốn, đất đai, khoa học công nghệ và con người. Về vốn, cần có chính sách tín dụng ưu đãi, thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp vào lĩnh vực tam nông. Về đất đai, cần thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất để hình thành các vùng sản xuất lớn, thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hóa và công nghệ hiện đại. Quan trọng hơn cả là việc đầu tư vào khoa học công nghệ. Cần đẩy mạnh hoạt động khuyến nông, chuyển giao kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp từ khâu giống, canh tác đến bảo quản sau thu hoạch. Con người là yếu tố quyết định. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua các chương trình đào tạo nghề cho nông dân là nhiệm vụ cấp bách. Khi người nông dân được trang bị kiến thức, kỹ năng và tư duy sản xuất mới, họ sẽ trở thành chủ thể tích cực trong quá trình hiện đại hóa kinh tế nông thôn, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp thịnh vượng.

4.1. Giải pháp đột phá về vốn đất đai và cơ sở vật chất kỹ thuật

Để giải quyết bài toán vốn, cần đa dạng hóa các kênh huy động, từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng ưu đãi đến thu hút vốn đầu tư tư nhân. Chính sách tam nông cần có những ưu đãi cụ thể về thuế, đất đai để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào nông nghiệp. Việc tích tụ đất đai có thể thực hiện thông qua các mô hình liên kết, cho thuê quyền sử dụng đất. Song song đó, cần đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu như hệ thống thủy lợi, điện, đường giao thông nội đồng để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất lớn và vận chuyển hàng hóa.

4.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thúc đẩy kinh tế hộ gia đình

Lao động nông nghiệp cần được đào tạo lại để chuyển từ lao động giản đơn sang lao động có kỹ thuật. Các chương trình tập huấn, dạy nghề cần được thiết kế sát với thực tế sản xuất tại địa phương. Việc nâng cao dân trí và năng lực cho người nông dân sẽ giúp họ tự tin áp dụng công nghệ mới, tham gia vào các chuỗi liên kết và quản lý sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn. Mô hình kinh tế hộ gia đình vẫn là nền tảng, nhưng cần được nâng cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa, sản xuất theo hợp đồng để trở thành một mắt xích vững chắc trong chuỗi giá trị nông sản.

V. Kết quả thực tiễn và mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ

Phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp ở huyện Bố Trạch giai đoạn 2014-2018 cho thấy một số kết quả tích cực ban đầu, nhưng hiệu quả kinh tế nông nghiệp vẫn còn nhiều dư địa để cải thiện. Giá trị sản xuất nông nghiệp có tăng trưởng nhưng chưa ổn định và bền vững. Năng suất một số cây trồng, vật nuôi đã được cải thiện nhờ áp dụng giống mới và kỹ thuật canh tác tiến bộ. Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn vẫn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Nguyên nhân chính vẫn là do khâu tổ chức sản xuất và kết nối thị trường còn yếu. Để khắc phục hạn chế này, việc xây dựng và nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ hiệu quả là giải pháp mang tính đột phá. Các mô hình này giúp hình thành chuỗi giá trị nông sản khép kín, từ cung ứng vật tư đầu vào, tổ chức sản xuất, đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Khi tham gia vào chuỗi liên kết, người nông dân được đảm bảo về đầu ra, giá cả ổn định và được hỗ trợ về kỹ thuật, vốn. Doanh nghiệp có được vùng nguyên liệu ổn định, chất lượng được kiểm soát. Đây là mô hình đôi bên cùng có lợi, hướng tới nền phát triển nông nghiệp bền vững và nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản Bố Trạch.

5.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2014 2018

Dựa trên số liệu từ Niên giám Thống kê huyện Bố Trạch, luận văn đã phân tích các chỉ tiêu quan trọng như giá trị sản xuất, năng suất cây trồng, sản lượng chăn nuôi. Các bảng số liệu (2.17, 2.19, 2.21) cho thấy sự tăng trưởng về mặt sản lượng của một số sản phẩm chủ lực. Tuy nhiên, giá trị gia tăng không cao do chi phí đầu vào tăng và giá bán nông sản bấp bênh. Thu nhập bình quân đầu người (Bảng 2.25) tuy có cải thiện nhưng khoảng cách so với khu vực thành thị còn lớn. Những con số này phản ánh rõ nét thách thức về hiệu quả kinh tế nông nghiệp cần giải quyết.

5.2. Xây dựng chuỗi giá trị nông sản và các mô hình liên kết hiệu quả

Mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi giá trị là chìa khóa. Các hình thức liên kết cần được đa dạng hóa, từ mô hình hợp tác xã kiểu mới, tổ hợp tác, đến mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân thông qua hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ và làm cầu nối cho các bên tham gia. Việc xây dựng thành công các chuỗi giá trị nông sản cho các sản phẩm thế mạnh sẽ giúp tạo ra thương hiệu, nâng cao giá trị và đảm bảo đầu ra bền vững cho nông nghiệp huyện nhà.

VI. Định hướng phát triển nông nghiệp Bố Trạch đến năm 2030

Định hướng phát triển nông nghiệp Bố Trạch trong tương lai phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của huyện và tỉnh, đặt trong bối cảnh hội nhập và biến đổi khí hậu. Mục tiêu tổng quát là xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao. Quá trình này phải song hành với chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, nhằm nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Các giải pháp đề xuất trong luận văn tập trung vào việc hoàn thiện cơ chế, chính sách tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và phát triển. Cần có một quy hoạch tổng thể, xác định rõ các vùng sản xuất chuyên canh, các sản phẩm chủ lực để tập trung nguồn lực đầu tư. Tương lai của phát triển nông nghiệp ở huyện Bố Trạch phụ thuộc vào khả năng chuyển đổi thành công từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, coi thị trường là mệnh lệnh của sản xuất, và lấy khoa học công nghệ làm động lực then chốt để tạo ra sự đột phá.

6.1. Tầm nhìn chiến lược gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới

Phát triển nông nghiệp không thể tách rời mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Nông nghiệp phát triển tạo ra nguồn lực kinh tế để đầu tư xây dựng hạ tầng, cải thiện môi trường, phát triển văn hóa - xã hội ở nông thôn. Ngược lại, chương trình nông thôn mới tạo ra nền tảng hạ tầng và xã hội vững chắc, thúc đẩy nông nghiệp hiện đại hóa. Tầm nhìn chiến lược là xây dựng Bố Trạch trở thành một huyện có nền nông nghiệp phát triển, nông thôn văn minh, nông dân có đời sống ấm no, hạnh phúc.

6.2. Hoàn thiện chính sách tam nông và các giải pháp vĩ mô khác

Để hiện thực hóa định hướng, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Chính phủ và tỉnh Quảng Bình cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách tam nông, đặc biệt là chính sách về đất đai, tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp, và hỗ trợ thị trường. Cần có những giải pháp vĩ mô nhằm ổn định thị trường đầu vào và đầu ra, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại cho nông sản. Việc tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm và thu hút công nghệ từ các nước có nền nông nghiệp phát triển cũng là một hướng đi quan trọng cho tăng trưởng kinh tế địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển phát triển nông nghiệp ở huyện bố trạch tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nông nghiệp. Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bố Trạch, tinh Quang Binh Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp ở huyện Bố Trach, tinh Quang Binh. So luge téng quan vé tài liệu nghiên cứu. Mặc dù trong những năm qua cơ cấu ngành nông nghiệp ngày cing giảm xuống nhưng nông nghiệp vẫn là một bộ phận hết sức quan trọng trong.

nên kinh tế, không chỉ cung cắp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng của con người mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, đồng thời giải quyết việc làm cho một đại bộ phận dân số, đặc biệt là dân số ở khu vực nông. 'thôn nước ta; nên nông nghiệp luôn là mi quan tâm của đa số các địa phương và của nhiều nhà nghiên cứu. Nghiên cứu của Bủi Quang Bình (2012) cho rằng trong nông nghiệp, đất đai là một nhân tố sản xuất chiếm giữ vai trò quyết định. Gắn liền với vai trò chủ đạo của đất đai là ảnh hưởng của thời tiết.

Sự khác nhau về chất lượng. đất trồng, khí hậu và nguồn nước sẵn có dẫn đến việc sản xuất lương thực khác nhau và các biện pháp để nâng cao năng suất của một vụ khác nhau không chỉ ở các nước mà ngay giữa các tỉnh, huyện của một nước. Nông nghiệp là ngành duy nhất sản xuất lương thực. “Con người không thể sống.

nu thiểu lương thực và thực tế không có sản phẩm nào thay thé được lương thực. Mỗi quốc gia đều phải sản xuất được lương thực hoặc nhập khâu lương. Ngành nông nghiệp ở các nước dang phát triển, ở giai đoạn phát triển ban đầu có nhiều nhân công làm thuê hơn hẳn so với các ngành công nghiệp và lĩnh vực dich vụ (60-70%). Những nước có nền kinh tế phát triển sử dụng không quá 10% lực lượng lao động trong nông nghiệp.

“Do lich sử lâu đời mà nền kinh tế nông thôn thường được nói đến như nẻn kinh tế truyền thống” [1, tr. Tạ Thị Đoản (2017) “Phát triển nông nghiệp Việt Nam trong bồi cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, bài viết đã chỉ ra được những kết quả đã đạt được. của ngành nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010-2015 như nông nghiệp là ngành giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, đảm bảo cân bằng cho nền. Mặc dù còn nhiều hạn chế như năng suất lao động thấp, năng lực cạnh tranh không cao nhưng nông nghiệp Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn và là ngành duy nhất đạt xuất siêu giúp Việt Nam trở thành một trong số các quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới về nhiều loại nông sản như: gạo, cả.

phê, hạt tiêu, cao su, các mặt hàng gỗ và thủy sản. Trong khi đó các ngành kinh tế khác còn bị tác động bởi suy thoái kinh tế. Bài viết cũng chỉ ra được những cơ hội và thách thức ¡ ngành nông nghiệp Việt Nam nếu 16 hiệp định thương mại tự do được ký kết. Về cơ hội, đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp; vị thế của ngành nông nghiệp gia tăng khi tham gia vào chuỗi cung ứng nông sản thể giới; thu hút đầu tư vào ngành nông nghiệp; thúc đây cải cách thể chế, môi trường kinh doanh trong nước.

Về thách thức, gia. tăng áp lực cạnh tranh trên thị trường nội địa; tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam thời gian qua chủ yếu dựa trên thâm dụng tài nguyên thiên nhiên. Điều này gây tác đông xấu đến môi trường, làm tăng mức độ ô nhiễm và suy yếu nguồn tải nguyên thiên nhiên; biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra, ảnh hướng lớn đến nông nghiệp nước ta; khoa học công nghệ trong nông nghiệp vừa thiếu, vừa lạc hậu; đội ngũ khoa học nông nghiệp tuy đông nhưng không mạnh [3] 'Vũ Đình Thắng (2006) cho rằng, nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng và phức tạp. Nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà là cả hệ thống sinh học - kỹ thuật, vi dé phát triển nông nghiệp phải sir dung tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi.

Tắt cả tiềm năng đó phát triển theo qui luật sinh học nhất định mà con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác đông thích hợp với chúng. [I8] Lưu Chí Thắng (2009) cho rằng hiện nay đàn giống vật nuôi của chúng. ta rất phong phú, nhiều giống, nhiều loài nhưng chưa tạo được những giống. vật nuôi năng suất cao đáp ứng được nhu cầu của sản xuất trong nước [ L7], Nguyễn Trần Trọng (2012) trong bài viết “Phát triển nông nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hội nhập giai đoạn 2011 - 2020” cần thực.

hiện một số chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập: để nông. nghiệp tương xứng với vai trò và vị trí trong nên kinh tế quốc dân cần tăng. cường đầu tư; cần ôn định và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong nước và quốc tế, hỗ trợ nông đân tiếp cận thông tin thị trường, nguồn tín dụng; ban hành các chính sách về ruộng đất phù hợp; phát triển nông nghiệp sinh thai, nông nghiệp hữu cơ hạn chế tác động từ bên ngoài [2l]. Bai Quang Ding (2014) đã có những nghiên cứu về xây dựng nền nông, nghiệp hàng hóa ở Tây Nguyên.

Tác giả cho rằng với những điều kiện tự nhiên, chính trị và đặt trong chiến lược phát triển chung của đất nước thì công nghiệp. hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa là con đường tắt yếu của Tây Nguyên. Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra những rảo cản lớn đối với Tây Nguyên như phương thức canh tác, ứng xử kinh tế nông nghiệp, đa dạng cấu trúc tộc người, thiết chế quản lý truyền thống [2] "Đào Lan Phương (2012) “Chính sách tài chính đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp”. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng của việc thực hiện các chính sách đối với phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam, trong đó di sâu phân tích những tồn tại hạn chế của chính sách tài chính đối với phát triển nông nghiệp.

Từ đó đề xuất các giải pháp về chính sách tài chính để phát triển nông nghiệp như sửa đổi bổ sung một số sắc thuế hiện hành, duy trì ưu đãi thuế với nông. nghiệp, nông thôn; tăng cường nguồn vốn ngân sách nhà nước, thu hút vốn ODA, FDI dau tu phat triển tam nông [9]. Vai Binh Trong (2012) “Đặc trưng của nền nông nghiệp mới trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, toàn cầu hóa”, đã khái quát quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi xây. dựng một nền nông nghiệp mới, đảm bảo những chức năng mới của nông.

nghiệp trong tương lai. Để nông nghiệp phát triển bền vững, có tính cạnh tranh cao, thân thiện môi trường vần phải đổi mới công nghệ hiện đại, thích hợp. Trong nền nông nghiệp đó có nhiều chủ thể như thương nhân, doanh nghiệp, nông dân, nhưng nông dân vẫn là cái gốc, là chủ nhân của các đơn vị sản xuất lớn hơn như trang trại, doanh nghiệp, là người làm chủ. Cần có sự liên kết theo chiều dọc, theo chiều ngang giữa các tác nhân trong chuỗi ngành hàng để đảm bảo cạnh tranh, tăng qui mô sản xuất và thương hiệu [20] Bùi Sĩ Tiểu (201 1) “Mô hình sản xuất nông nghiệp nào phù hợp với cơ.

chế thị trường và quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta hiện nay”. 'Qua phân tích các mô hình sản xuất nông nghiệp hiện nay như mô hình hợp tác xã, tô hợp tác, trang trại, liên kết doanh nghiệp.tác giả đã đề xuất đổi mới các chính sách tạo điều kiện phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp như chính sách về đất đai, tín dụng, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chính sách đảo tạo cán bộ [19]. Vo Thị Hồng Hạnh, Đặng Văn Thắng (2012) trong bài viết “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp”. Theo các tác giá này, trong giai đoạn 2001 - 2010 giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của Việt Nam dat mức tăng trưởng khá, bình quân trên 5%/năm.

Nhưng xét về bản chất, trong giai đoạn 2001 - 2010 mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo chiều rộng của Việt Nam vẫn là mô hình tăng trưởng chất lượng thấp, kém. hiệu quả và dé đạt được sự tăng trưởng đó, có khi chúng ta phải trả giá đất vì đã khai thác quá mức tải nguyên thiên nhiên dẫn tới ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học và hệ sinh thái, đe dọa an ninh lương thực. Vì vậy, cần phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp: từ chủ yếu theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới về khoa học công nghệ, nhân lực chất lượng cao cũng như kỹ năng quản lý hiện đại [5] Hội thảo khoa học: “Giới, Di cư và phát triển nông thôn” do khoa lý luân chính trị và xã hội, Học viên Nông nghiệp Việt Nam tổ chức (2015) đã phân tích những ảnh hưởng của dĩ cư đến sự chuyển dịch của phân công lao động trong gia đình, sử dụng đắt đai, sự thay đổi về tổ chức và thể chế nông 'thôn.để đưa ra những đề xuất nhằm giảm thiểu phí tổn và tối đa hóa lợi ích của di dư [26] Bai Thị Minh Nguyệt, Trin Van Hing (2016) “Phát triển nông nghiệp 'Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” bài viết tập trung phân tích thực trạng của ngành nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1991-1995 và giai đoạn 2005-2014. “Ngành nông nghiệp không những đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu an 10 ninh lương thực quốc gia, tiêu dùng nội địa mà còn đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu các sản phẩm có thế mạnh mang thương hiệu cho nông sản Việt Nam như gạo, cà phê, cao su, thủy sản.

mang về nguồn ngoại tệ lớn cho đắt nước” [8.144] Ngoài các tác phẩm, bài viết, báo cáo, niên giám thống kê đã nêu ở trên, còn có nhiều bài viết của các tác giả với các cách tiếp cận khác nhau đã nêu lên nhiều vấn đề về những nội dung cơ bản của phát triển nông nghiệp. qua các giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đã góp phần giải quyết những vấn để thực tiễn của phát triển nông nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ