Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN CỤM CÔNG NGHIỆP Khái niệm cụm công nghiệp “distriet industriel” xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 bởi Marshall xuất phat tr việc nghiên cứu của ông về sự tập trung sản xuất công nghiệp ở miền bắc nước Anh. Sau đó, khái niệm này được phát triển theo 2 trường phái tiếp cận công nghiệp khác nhau. Các nhà nghiên cứu theo trường phái Pháp như Courlet et Pecqueur , Colletis ,. goi l các hệ thống sản xuất đị phương “Systèmes productiRlocalisés”.
Đó h hệ thống sản xuất đề cập nhiều đến khía cạnh lĩnh thổ. Các nhà nghiên cứu theo trường. phái Anh - Mỹ gọi là cụm công nghiệp liên kết “cluster” hay “district industriÏ" với các tiếp cận của G. Porter ; Nadvi et Schmitz , ‘Vay cum cing nghiệp(CCN) là gì ? CCN là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty và các tô chức có liên quan với nhau trong một lĩnh vực cụ thể; gồm một loạt các ngành công nghiệp.
liên kết với nhau và các chủ thể khác có vai trò quan trọng đối với cạnh tranh; sồm chính phủ và các tổ chức khác. cung cấp giáo dục, đào tạo, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật (theo Pozrer). CCN là một thực thể xã hội- lãnh thô đặc trưng bởi sự có mặt hoạt động. của một cộng đồng người và quân thể doanh nghiệp trong một không gian địa lý và lịch sử nhất định (theo G.
Becattini) CCN Bi sy tap trung về mặt địa lý hoặc địa phương hóa của các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng tương tự nhau hoặc có liên quan mật thiết với nhau trong một khu vue nhé (theo Sonobe & Orsuka) 'CCN là sự tập trung về mặt địa lý trong một quốc gia hoặc một vùng của các công ty có liên kết với nhau, các nhà cung cấp chuyên biệt, các nhà cung. cấp dịch vụ và các tổ chức liên quan thuộc một lĩnh vực cụ thé (theo Kuchiki) CCN là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu ar xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắt thu hút các cơ sở sản xuất doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gã đình ở địa phương vào đầu tr sản xuất, kinh doanh; do Uy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập. CCN có quy mô diện tích không quá 50. Trường hợp cân thiết phải mở rộng cụm công nghiệp hiện có.
thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không vượt quá 75 ha. Nhận định sự khác nhau giữa các quan điểm về CCN Thực tế, có nhiều định nghĩa khác nhau về CCN. Nhưng trong các định nghĩa đều chứa đề cập đến sự tập trung theo địa lý của các doanh nghiệp gắn kết với sự đôi mới và có sự phát triển năng động do tính hiệp đồng thừa hưởng từ “Tính hiệu quả tập thể'" thông qua các tác động kinh tế từ bên. ngoài, từ mạng lưới các nhà cung cắp, mạng lưới khách hàng và các lợi ich của các hoạt động tập thể.
Trong CCN, ví mắu chốt là có sự hiệp đồng. sản xuất với qui mô lớn, có sự tác động qua lại, có sự tương trợ, có sự ganh dua và có khả năng phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường để mang lại hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh. Các cách hiểu về CCN ở trên tuy khác nhau, nhưng đều có điểm chung. là: muốn nói đến sự tập trung công nghiệp và mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong CCN.
Mặc dù thuật ngữ “cụm công nghiệp” được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam, nhưng khái niệm “cụm công nghiệp” của Việt Nam. không giống với những khái niệm đã trình bay ở trên. Theo định nghĩa này (dinh nghia CCN theo 105/2009/QD-TTg) thì CCN được hiểu h một khu công nghiệp quy mô nhỏ. Do vậy, có thể nói khái niệm khu công nghiệp (industrial zone) và CCN (industrial cluster) ở Việt Nam được hiểu là một.
Tiên thực tế, hai khái nệm này có liên quan đến nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau. Cả hai đều là nơi chuyên sản xuất sản phẩm công nghiệp và hoặc cung cấp dịch vụ công nghiệp nhưng khu công nghiệp có ranh giới địa by xác định còn CCN thì có thể không. Do vậy,có thể hiểu CCN là một thể chế hơn b một khu vực địa lý đơn thuần. Nói cách khác, khái niệm khu công nghiệp đề cập tới địa điểm tập trung.
của các hoạt động kinh tế còn khái niệm CCN đề cập tới hiện tượng tập trung và liên kết của các hoạt động kinh tế. Đồng thời, khu công nghiệp thường được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục nhất định còn CCN có thể tổn tại một cách tự phátvà không nhất thiết phải được thành lập treo một trình. Thêm nữa, trong khu công nghiệp có thể tồn tại hoặc không tồn tại sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhưng đối với CCN đây là một yếu tố quan. Do cách hiểu về CCN như vậy nên ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu đẩy đủ nào về CCN và các chính sách phát triển CCN cũng chưa.
được thực hiện một cách hệ thống, đầy đủ. Chính sách phát triển CCN (nếu có) cũng chỉ là chính sách phát triển khu công nghiệp và thu hút đầu tư nhằm. lắp đầy khu công ngh‡ệp. Nhìn chung, tuy đã có dấu hiệu về sự tập trung công nghiệp ở một số.
vùng, nhưng sự tập trung xuất hiện chủ yếu là do các lợi thế cạnh tranh tĩnh (địa điểm, chính sách thu hút đầu tư của địa phương, chỉ phí lao động thấp, gần thị trường và nguồn cung đầu vào.) mà không phải do lợi thế cạnh tranh. động (chất lượng lao động, công nghiệp hỗ trợ, công nghé, R&D.) va lign kết kinh doanh giữa các doanh nghiệp, đặc biệt giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách chưa quan tâm đúng mức tới sự tập trung công nghiệp này. Hình thức hỗ trợ mới chỉ dừng lại ở việc tổ chức hội nghị, triển lãm, chưa có các chương trình đài hạn có tác động thực sự đến doanh nghiệp 1.
Các mô hình phát triển CCN Câu hỏi đặt ra là liệu các nhà hoạch định chính sách có thể tạo ra các CCN, hay chúng được hình thành và phát triển một cách tự phát nhờ một “biến có lịch sử” nào đó. Thực tế cho thấy nhiều nước trên thế giới, kể cả nước tiên tiến và nước đang phát triển đều đang nỗ lực triển khai các chính sách phát triển CCN nhằm đẩy mạnh tăng trưởng công nghiệp. rằng chính sách CCN là một phần của chính sách phát triên vùng. Điều quan trọng là phải xác định rõ vai trò của chính quyền địa phương đối với sự hình thành CCN, Trên cơ sở đó, chúng ta xem xét các mô hình chính sích phát triển CCN bao gồm mô hình của Boekholt và Thuriaux (1999), mô hình theo biểu đồ tiến trình của Kuchiki (2007) và mô hình của Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại (METI) Nhật Bản.
Mé hinh cia Boekholt va Thuriawe Boekholt và Thuraux (1999) phân loại thành bốn mô hình chính sách phát triển CCN khác nhau, gồm có: Thứ nhất Mô hình lợi thế quốc gia Tại các quốc gia tiếp cận theo mô hình lợi dhế quốc gia, các nhà hoạch định chính sách tiến hành nghiên cứu, lập bản đồ CCN trên toàn quốc để xác định một số CCN chủ yếu và tập trung nguồn lực cho các cụm này. Các chính sách được đưa ra nhằm cải thiện điều kiện cạnh tranh để có thể đáp img những nhu cầu cụ thể của các cụm và tạo điều kiện thuận lợi cho các cụm này. tiếp cân với R&D, thị trường nước ngoài, giáo dục. “Thứ hai: Mô hình mạng lưới doanh nghiệp Theo mô hình này thì chính sich phat trign CCN là những chương trình.
xây dựng, duy trì và khuyến khích phát triển mạng lưới liên kết giữa các doanh nghiệp trong phạm vi vùng, gồm ba loại hình cơ bản: mạng lưới nguồn lực (các doanh nghiệp cùng chia sẻ các nguồn lực về đào tạo, công nghệ, knh: nghiệm quản lý, thông tin chiến lược), mạng lưới chuỗi cung cấp (nhóm các. nhà cung cấp cộng tác với nhau và với nhà &hằu tiểm năng của họ) và mạng. Cơ chế hỗ trợ tập trung vào việc khuyến khích mạng lưới cộng tác giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa các doanh nghiệp với các nhà cung cấp trỉ thức, công nghệ, và nâng cao kỹ năng môi giới của các nhà môi giới kinh doanh. Thứ ba: Mô hình phát triển cụm vùng.
Theo mô hình này thì chính sách phát triển CCN được thực hiện nhằm tăng cường năng lực cho các ngành công nghiệp tại đã phương. Chính quyền. địa phương sử dụng các công cụ chính sách khác nhau liên quan đến khoa học công nghệ, giáo dục, thu hút nước ngoài. nhằm thúc đẩy các ngành công nghiệp này.
Những chính sách này khuyến khích các thành viên trong CCN gặp gỡ trực tiếp nhau nhằm tăng cường mạng lưới liên kết giữa các doanh. 'Thứ tư: Mô hình liên kết công nghiệp - nghiên cứu. Trong mô hình liên kết công nghiệp - nghiên cứu thì bên cạnh các doanh nghiệp trong CCN là các cơ sở nghiên cứu luôn tồn tại và đồng hành song song.Do đó, CCN theo mô hình này không phải là chuỗi gái trị sản phẩm mà là. chuỗi giá trị tri thức, từ nghiên cứu cơ bản đến thương mại hóa.
Công cụ hỗ trợ chủ yếu R hỗ trợ tài chính cho các hoạt động hợp tác trong R&D, hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp dựa vào công nghệ cao và cung cấp những thông tin chiến lược vẻ phát triển khoa học công nghệ trong một vài ĩnh vực cụ thé. Như vây, bốn mô hình chính sách phát triển CCN của Bockholt và 'Thuriaux đều quan tâm đến lợi thế của các doanh nghiệp trong một CCN là: có lợi thế trong việc cùng chã sẽ sự tiến bộ về khoa học công nghệ, liên kết các nguồn lực, liên kết thị trường, thu mua hàng hóa,. nhằm tạo m lợi thế cạnh tranh. Bên cạnh đó, song song và đồng hành các doanh nghiệp trong, 'CCN thì với sự có mặt của các trung tâm nghiên cứu sẽ tạo ra chuỗi giá trị rỉ thức từ nghiên cứu cơ bản đến thương mại hóa.
Để đạt được mục tiêu trên thì chính quyền địa phương luôn cần có những chính sách hỗ trợ phủ hợp như: hỗ.