Luận văn thạc sĩ kinh tế: Phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

Luận văn thạc sĩ phân tích phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, đề xuất giải pháp và định hướng tương lai.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

125
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh phát triển công nghiệp nông thôn Quảng Ngãi 2020

Luận văn thạc sĩ về phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 cung cấp một cái nhìn tổng thể và sâu sắc về một lĩnh vực kinh tế trọng yếu. Công nghiệp nông thôn (CNNT) được xác định là một bộ phận của công nghiệp cả nước, phân bố tại khu vực nông thôn, bao gồm các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ thuộc nhiều thành phần kinh tế. Sự phát triển của lĩnh vực này gắn bó chặt chẽ với quá trình công nghiệp hóa nông thôn, tạo ra việc làm, tăng thu nhập và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần mà còn là một vấn đề kinh tế - xã hội phức hợp, vừa gắn với chiến lược phát triển chung của quốc gia, vừa đáp ứng các mục tiêu chính trị, xã hội tại địa phương. Quá trình này giúp khai thác hiệu quả tiềm năng tại chỗ như lao động, đất đai, tài nguyên, đồng thời góp phần xây dựng nền tảng cho công nghiệp lớn phát triển sau này. Việc nghiên cứu đề tài này là cấp thiết, bởi dù công nghiệp Quảng Ngãi đã có những bước tiến, khu vực nông thôn vẫn phát triển chậm, chất lượng sản phẩm chưa cao và khả năng cạnh tranh còn hạn chế. Do đó, việc tìm ra các giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững cho CNNT là nhiệm vụ trọng tâm nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi.

1.1. Vai trò của công nghiệp hóa nông thôn trong kinh tế

Quá trình công nghiệp hóa nông thôn đóng vai trò then chốt trong việc thay đổi bộ mặt kinh tế và xã hội tại các địa phương. Theo luận văn của tác giả Phạm Thị Hồng Hạnh, phát triển CNNT là một tất yếu khách quan, giúp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ thuần nông sang cơ cấu nông-công nghiệp-dịch vụ. Nó tạo ra việc làm tại chỗ, thu hút lượng lớn lao động dôi dư từ nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Hơn nữa, CNNT còn có vai trò vệ tinh cho các khu công nghiệp Quảng Ngãi lớn, tham gia vào chuỗi gia công sản phẩm và tiếp thu công nghệ tiên tiến. Quá trình này không chỉ làm tăng giá trị cho sản phẩm nông nghiệp thông qua các hoạt động chế biến nông lâm thủy sản mà còn kích thích sự phát triển của các ngành dịch vụ hỗ trợ, tạo ra một hệ sinh thái kinh tế năng động và bền vững. CNNT giúp khai thác các tiềm năng sẵn có của địa phương, từ nguyên liệu đến nguồn nhân lực nông thôn, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế toàn diện.

1.2. Sự cần thiết của công nghiệp nông thôn tại Quảng Ngãi

Tại Quảng Ngãi, việc phát triển công nghiệp nông thôn là một nhu cầu bức thiết. Giai đoạn trước năm 2010, cơ cấu kinh tế nông thôn của tỉnh vẫn chủ yếu là nông nghiệp, trong khi công nghiệp phát triển chậm và chiếm tỷ trọng nhỏ. Điều này dẫn đến tình trạng dư thừa lao động, thu nhập thấp và khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Phát triển CNNT là giải pháp hữu hiệu để giải quyết các vấn đề này. Nó không chỉ tạo việc làm, ổn định đời sống cho người dân mà còn là động lực chính cho quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Theo nghiên cứu, CNNT giúp hạn chế dòng người di cư tự do ra thành thị, giảm áp lực cho các đô thị lớn. Đồng thời, việc phát triển các cụm công nghiệp nông thônlàng nghề truyền thống Quảng Ngãi sẽ góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa, tạo ra các sản phẩm đặc trưng có giá trị kinh tế cao, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi một cách cân bằng và hài hòa.

II. Thực trạng công nghiệp nông thôn Quảng Ngãi Thách thức

Mặc dù có nhiều tiềm năng, thực trạng công nghiệp nông thôn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2005-2009 cho thấy sự phát triển còn chậm và thiếu bền vững. Luận văn đã chỉ ra nhiều thách thức lớn cần phải đối mặt. Số lượng cơ sở sản xuất CNNT tăng nhưng quy mô chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, hoạt động dưới hình thức hộ gia đình, thiếu sự liên kết sản xuất chặt chẽ. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm còn yếu do công nghệ lạc hậu, mẫu mã đơn điệu và chất lượng chưa đồng đều. Các yếu tố nguồn lực như vốn và lao động chất lượng cao còn thiếu hụt trầm trọng. Đa số lao động chưa qua đào tạo bài bản, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng nông thôn như giao thông, điện, nước và hệ thống xử lý chất thải chưa được đầu tư đồng bộ, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất và vận chuyển hàng hóa. Các chính sách thu hút đầu tư vào khu vực nông thôn chưa thực sự hấp dẫn, công tác quy hoạch và triển khai còn nhiều bất cập, dẫn đến sự phát triển tự phát, thiếu định hướng. Đây là những rào cản chính kìm hãm sự phát triển của CNNT, đòi hỏi phải có những giải pháp phát triển kinh tế đột phá và toàn diện.

2.1. Phân tích số liệu thực trạng công nghiệp nông thôn 2005 2009

Dữ liệu từ luận văn cho thấy, giai đoạn 2005-2009, số lượng cơ sở CNNT tại Quảng Ngãi có sự gia tăng, tuy nhiên tốc độ tăng không đồng đều giữa các ngành. Các ngành chế biến nông lâm thủy sản và sản xuất vật liệu xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhưng chủ yếu là các cơ sở quy mô nhỏ, công nghệ thô sơ. Về cơ cấu vốn, vốn tự có của các hộ gia đình vẫn là nguồn chính, khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng còn hạn chế. Cụ thể, Bảng 2.6 trong luận văn chỉ ra rằng phần lớn các cơ sở có quy mô vốn rất nhỏ. Về lao động, Bảng 2.5 cho thấy lao động trong CNNT tăng nhưng chất lượng không cao, chủ yếu là lao động phổ thông. Hiệu quả kinh tế của các cơ sở sản xuất chưa cao, giá trị sản xuất tăng chậm, đóng góp vào GDP chung của tỉnh còn khiêm tốn. Thực trạng công nghiệp nông thôn này phản ánh một bức tranh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của địa phương.

2.2. Hạn chế về cơ sở hạ tầng nông thôn và nguồn nhân lực

Một trong những rào cản lớn nhất đối với phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Quảng Ngãi là sự yếu kém của cơ sở hạ tầng nông thôn. Hệ thống giao thông, đặc biệt là đường liên thôn, xã, còn nhiều tuyến đường chưa được cứng hóa, gây khó khăn cho việc vận chuyển nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm, làm tăng chi phí sản xuất. Mạng lưới điện tuy đã phủ khắp nhưng chưa ổn định, ảnh hưởng đến hoạt động của máy móc thiết bị. Về nguồn nhân lực nông thôn, tỉnh đối mặt với tình trạng "vừa thừa, vừa thiếu". Thừa lao động phổ thông nhưng thiếu trầm trọng lao động có tay nghề cao, cán bộ quản lý giỏi. Công tác đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường, dẫn đến lãng phí nguồn lực và làm giảm năng lực cạnh tranh của toàn ngành.

III. Giải pháp phát triển kinh tế cho công nghiệp nông thôn

Để thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đề xuất một hệ thống các giải pháp phát triển kinh tế đồng bộ và mang tính chiến lược. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế, chính sách để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Cần có những chính sách thu hút đầu tư đặc thù cho khu vực nông thôn, ưu đãi về thuế, đất đai và tín dụng cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản và các ngành nghề có lợi thế. Công tác quy hoạch phải đi trước một bước, xác định rõ các vùng, cụm công nghiệp nông thôn tập trung, gắn quy hoạch CNNT với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn, đặc biệt là giao thông và điện. Việc phát triển thị trường và đẩy mạnh xúc tiến thương mại cũng là một giải pháp quan trọng, giúp sản phẩm CNNT tiếp cận được các thị trường lớn hơn. Cuối cùng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn thông qua các chương trình đào tạo nghề gắn với thực tiễn là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển bền vững.

3.1. Hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư và quy hoạch

Giải pháp hàng đầu là cải thiện môi trường đầu tư. Chính quyền tỉnh cần ban hành các chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn hơn, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Cần ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ sạch, tạo nhiều việc làm và có sự liên kết sản xuất với nông dân địa phương. Công tác quy hoạch cần được thực hiện bài bản, tránh tình trạng phát triển tự phát. Việc hình thành các cụm công nghiệp nông thôn và các khu sản xuất tập trung sẽ giúp giải quyết vấn đề mặt bằng, xử lý môi trường và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hỗ trợ lẫn nhau, nâng cao hiệu quả kinh tế.

3.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ

Nguồn nhân lực nông thôn là yếu tố quyết định. Cần đẩy mạnh các chương trình đào tạo, dạy nghề theo nhu cầu xã hội, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo để đảm bảo lao động sau khi tốt nghiệp có thể làm việc ngay. Đồng thời, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến khích các cơ sở CNNT đổi mới máy móc, thiết bị để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc ứng dụng công nghệ mới không chỉ giúp tăng khả năng cạnh tranh mà còn là nền tảng cho phát triển bền vững trong dài hạn.

IV. Phương pháp phát triển làng nghề và liên kết sản xuất

Một phương pháp hiệu quả để phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Quảng Ngãi là tập trung vào các làng nghề truyền thống và xây dựng mô hình liên kết sản xuất bền vững. Các làng nghề không chỉ là nơi bảo tồn giá trị văn hóa mà còn là những hạt nhân kinh tế quan trọng ở nông thôn. Cần có chính sách đặc thù để khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống Quảng Ngãi, hỗ trợ các nghệ nhân trong việc cải tiến mẫu mã, quảng bá sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Gắn phát triển làng nghề với du lịch là một hướng đi đầy tiềm năng, tạo ra chuỗi giá trị gia tăng và đa dạng hóa nguồn thu nhập cho người dân. Song song đó, việc thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, từ vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ, là hết sức cần thiết. Mô hình liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) cần được nhân rộng để đảm bảo đầu ra ổn định, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế cho tất cả các bên tham gia, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh.

4.1. Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống Quảng Ngãi

Quảng Ngãi sở hữu nhiều làng nghề độc đáo nhưng đang đối mặt với nguy cơ mai một. Giải pháp là cần có một đề án tổng thể để bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống Quảng Ngãi. Cần hỗ trợ các hộ sản xuất trong việc đăng ký thương hiệu, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm đặc trưng như tỏi Lý Sơn, quế Trà Bồng. Tổ chức các lớp tập huấn về thiết kế sản phẩm, kỹ năng marketing và bán hàng online. Xây dựng các tour du lịch trải nghiệm làng nghề để thu hút du khách, vừa quảng bá văn hóa, vừa tạo kênh tiêu thụ sản phẩm trực tiếp, mang lại lợi ích kinh tế cao.

4.2. Xây dựng mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị

Mô hình liên kết sản xuất lỏng lẻo là một trong những điểm yếu của CNNT Quảng Ngãi. Cần khuyến khích hình thành các hợp tác xã kiểu mới, đóng vai trò cầu nối giữa các hộ sản xuất nhỏ lẻ với doanh nghiệp lớn. Doanh nghiệp cung cấp giống, vật tư, kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm, trong khi nông dân và các cơ sở sản xuất cam kết đảm bảo chất lượng và số lượng nguyên liệu. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, hỗ trợ bằng các chính sách tín dụng, đất đai và thông tin thị trường. Mô hình này đặc biệt hiệu quả trong ngành chế biến nông lâm thủy sản, giúp ổn định vùng nguyên liệu và nâng cao giá trị sản phẩm.

V. Kết quả định hướng phát triển công nghiệp đến năm 2020

Việc áp dụng các giải pháp được đề xuất trong luận văn được kỳ vọng sẽ mang lại những kết quả tích cực cho phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Quảng Ngãi. Mục tiêu đến năm 2020 là tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn rõ rệt, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Hiệu quả kinh tế của các cơ sở CNNT dự kiến sẽ được cải thiện đáng kể thông qua việc đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường. Số lượng việc làm mới được tạo ra ở khu vực nông thôn sẽ tăng, góp phần giảm nghèo và nâng cao mức sống người dân. Định hướng phát triển công nghiệp trong giai đoạn này là tập trung vào các ngành có lợi thế cạnh tranh, thân thiện với môi trường và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc hình thành các cụm công nghiệp nông thôn và các vùng chuyên canh sản xuất nguyên liệu sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững. Những kết quả này sẽ là tiền đề quan trọng để Quảng Ngãi tiếp tục thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

5.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động xã hội dự kiến

Việc thực thi các giải pháp sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế trên nhiều phương diện: tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tăng doanh thu và lợi nhuận cho các cơ sở sản xuất. Tác động xã hội cũng rất lớn, bao gồm việc tạo ra hàng ngàn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn, nâng cao thu nhập bình quân đầu người. (Theo Luận văn Thạc sĩ Phạm Thị Hồng Hạnh, 2011), sự phát triển của CNNT còn góp phần làm thay đổi bộ mặt văn hóa, xã hội nông thôn, hạn chế các tệ nạn xã hội và xây dựng đời sống văn minh, hiện đại.

5.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và mục tiêu 2020

Mục tiêu trọng tâm là tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích cực. Định hướng phát triển công nghiệp của tỉnh là phấn đấu đưa tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu kinh tế nông thôn tăng lên đáng kể. Điều này đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng và thủ công mỹ nghệ. Việc chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp ngay tại địa bàn nông thôn sẽ là thước đo quan trọng cho sự thành công của chiến lược này, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh quảng ngãi đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Co sé ly luận về phát triển CNNT. “Chương 2: Tình hình phát triển CNNT tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Các giải pháp để phát triển CNNT tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN CNNT 1. KHÁI QUÁT VỀ CNNT 1.

Khái niệm CNNT Khái niệm CNNT chỉ mới xuất hiện vào những năm T0 của thế kỷ XX. Với nhiều tên gọi khác nhau như CNNT, công nghiệp làng xã, xí nghiệp hương trấn. Trong thực tế CNNT đã được hình thành và phát triển như một thực thể kinh tế độc lập, gắn liền với sự phát triển nông nghiệp và nông thôn. từ rất lâu.

Lúc đầu, khái niệm này được dùng dé chỉ tiểu thủ công nghiệp của các hộ dân cư vùng nông thôn ở các nước chậm phát triển. Sau này, khái niệm. 'CNNT được mở rộng bao hàm cả các hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn. CNNT được định nghĩ: khác nhau tùy thuộc các cách tếp.

cận, nghiền cứu nó, tuỳ thuộc đều kiện phát trên của nó. Trên thực tế, ở các nước khác nhau, khái niệm CNNT được hiểu khác nhau. Hiện nay trên thế giới có 4 cách tiếp cận khác nhau về khái niệm CNNT, đó là ~ Ở các nước như: Trung Quốc, Án Độ, Inđônêxia, Công nghiệp nông. thôn được tiếp cận từ giác độ kinh tế lãnh thổ, họ cho rằng: “CNNT được xem như một bộ phận của kinh tế lãnh thổ, CNNT là công nghiệp được phân bồ ở nông thôn” [9, tr.

10] Cách tiếp cận này thường được cán bộ quản lý kinh tế theo lãnh thổ và các cán bộ thực tiễn ở địa phương sử dụng, vì nó phủ hợp với lợi ích của các cơ quan quản lý nhà nước trên các vùng lãnh thồ như: dễ quy hoạch, dễ tập hợp số liệu, dé chi đạo.Tuy nhiên cách tiếp cận này thường. làm cho xu hướng phát triển CNNT khép ki tronggiới hạn của kih tế địa phương. Hậu quả là nó bị tách khỏi công nghiệp cả nước, tách khỏi sự phát triển chung với tư cách là một ngành kinh tế - kỹ thuật, dẫn đến sự mắt cân đối trong nội bộ ngành. Như vậy, với cách tiếp cận này, không thẻ hiện rõ tính toàn diện, tính hệ thống và chưa chú ý đúng mức tới quan hệ kinhtế - kỹ thuật của khu vực kinh tế nông thôn.

Tuy vậy, quan niệm này có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát trên của CNNT trên vùng lãnh thô do địa phương quản lý, tới sự thành công của việc trên khai các chương trình dự án phát triển CNNT. ~ Cách tiếp cận thứ hai là của các nước như Mêhicô, Braxh, Hàn Quốc, tô chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc. Cách tiếp cận này từ giác độ kinh 8É ngành. Họ cho rằng: “CNNT được xem như là một bộ phận của.

toàn bộ công nghiệp, có đặc điểm là phân bố ở nông thôn, gắn bó với các đơn vị sản xuấtkinh doanh khác trong ngành bởi những quan hệ kinh tế - kỹ thuật, việc phát triển nó phải được đặt trong chương trình phát triển công nghiệp nói chung, là một nội dung của công nghiệp hoá” [9, tr. Cách tếp cận này thường dễ được chấp nhận từ phía các cán bộ lãnh đạo ngành vì gắn với công, tác quy hoạch, phân bố điều chỉnh, theo dõi tình hình phát triển của ngành. Nhưng do quá nhắn mạnh mối quan hệ về kinh tế - kỹ thuật của ngành làm. cho mối quan hệ giữa CNNT với các ngành khác ở nông thôn thiếu gắn bó, vì vậy, việc khai thác các nguôn lực, tiềm năng địa phương kém hiệu quả.

~ Cách tiếp cận từ giác độ kinh € - xd he : Đài Loan cho rằng: “CNNT. được xem h toàn bộ những hoạt động sản xuất có tính công nghiệp ở nông, thôn, là những biện pháp góp phần phát triển kinh tế -xã hội nông thôn và giải quyết những nhiệm vụ kinh tế xã hội ở nông thôn nói chung và mỗi ving nông thôn cụ thể nói riêng” [9, tr. Cách tiếp cận này xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội ở những vùng nông thôn kém phát triển. Muốn thay đôi hiện trạng ở khu vực này, lối thoát duy nhất là phát trên các hoạt động sản.

xuất có tính công nghiệp. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở sự phát trên CNNT thì đến một khoảng thời gian nào đó, sự phát trên đó không còn ý nghữ, vì không đặt sr phát triển CNNT trong tổng thể sự phát trên công nghiệp nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung. Như vậy, với cách tiếp cận này chưa thê hiện được tính hệ thống, tính chiến lược trong quá trình. phát triển CNNT.

~ Cách tiếp cận xuất phát từ &inh tế - tổ chức: Đây là cách tiếp cận của. trung tâm phát triển nông thôn toàn diện khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ho xem khuôn khổ gia đình và qui mô vừa và nhỏ của các hoạt động được gọi là CNNT [4, tr. Cơ sở của quan niệm này xuất phát từ bối cảnh dân số nông thôn tăng nhanh, cơ hội kiếm việc làm trong nông nghiệp giảm, cho.

nên CNNT và công nghiệp hộ gia đình đã nổi bật như một tiềm năng giải quyết được việc làm ở nông thôn. Quan niệm này phù hợp với điều kiện thực tế ở nhiều nước đang phát triển, nhưng khái niệm CNNT chưa nói rõ CNNT bao gồm những ngành nghề gì, dễ đi đến nhận định tt ca các hoạt động phi nông nghiệp đều là CNNT. Từ các cách tiếp cận trên, cho thấy không thể dừng lại từng cách tiếp cận riêng lẻ mà phải xuất phát từ quan điểm toàn diện. Nghĩa là, phát trên 'CNNT là một vấn đề kinh tế xã hội chứ không phải đơn thuần là vấn đề knh tế; vừa gắn với chiến lược, chương trình phát triển các ngành kinh tế - kỹ thuật cả nước, vừa với mục tiêu kinhtế, chính trị và xã hôiở địa phương mà trước hết là nông thôn.

Ở Việt Nam, từ sau Đại hội Dang lần thứ VI (1986) đặc biệt sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4/1988) và các nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VII, VI, đã có nhiều công trình nghiên cứu. về CNNT và cũng đã có nhiều quan niệm khác nhau về CNNT như sau: ~ Theo tác gả Nguyễn Văn Phúc: CNNT chỉ là tiểu thủ công nghệp. được phân bố ở nông thôn [9, tr. Nó được xem là một bộ phân kinh tế địa phương nhằm cung cấp bổ sung các sản phẩm hàng hoá trong trường hợp.

xí nghiệp công nghiệp quốc doanh không cung cấp đủ hoặc bỏ qua không sản xuất. Như vậy CNNT có thể tồn tại hay không tồn tại tuỳ thuộc vào vai trò và năng lực của các xí nghiệp quốc doanh. Quan điểm này đã làm cản trở sự phát triển của CNNT, vì chỉ thấy chức năng “bỗ sung” của CNNT chứ chưa nhận. thấy hết được ý nghĩa vai trò của việc phát triển CNNT.

~ Tác giá Nguyễn Đình Phan xem CNNT bao gồm toàn bộ công nghiệp. ở nông thôn không cần phân biệt các đơn vị công nghiệp đó có gắn gì đến. kinh tế nông thôn hay không [8, tr. Với quan điểm này dẫn đến việc đánh.

giá không chính xác sự phát trền kinh tế - xã hội nông thôn. Chẳng hạn, có xí nghiệp công nghiệp tuy phân bố ở nông thôn nhưng không có gì gắn với kinh tế nông thôn, với doanh thu rất lớn, sẽ làm cho tỷ trọng công nghiệp ở đó tăng lên dẫn đến sự ngộ nhận là cơ cấu kinh tế nông thôn ở đó đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ đúng hướng. Từ đó có thể dẫn đến có những chính sách phát triển kinh tế - xã hội nông thôn không phủ hợp. - Nguyễn Trung Quế và nhóm tác giả coi CNNT là bộ phận công nghiệp phục vụ trực tiếp cho nông thôn, nhưng không nhất thiết phải nằm ở nông thôn [10, tr.

Quan điểm này chỉ nói lên được mối quan hệ giữa công. nghiệp với nông nghiệp, nông thôn, chứ chưa giúp gì cho việc nghiên cứu. Thật vậy, trong thực tế hẳu hết các ngành công nghiệp đều có phần phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Nếu chấp nhận quan điểm này thì sẽ gặp trở.

ngại rất nhều trong quá trình nghiên cứu CNNT. Trước hết, không thể phân biệt CNNT với công nghiệp đô thị. Thứ hai, là khó xác định doanh nghiệp nào đó có phải thuộc CNNT hay không vì nhiều doanh nghiệp không chỉ sản xuất phục vụ riêng nông thôn và nông nghiệp. ~ Một nhóm tác giả khác quan niệm CNNT R bộ phận công nghiệp nằmở nông thôn, có gắn bó trực tiếp và chặt chẽ với sản xuất kinh doanh ở.

địa phương Quan điểm này dễ thuyết phục hơn, nhưng chưa thấy được xu hướng thị trường địa phương nông thôn ngày càng mở rộng, nên tính gắn bó. của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh với kinh tế địa phương ngày càng thu hẹp. Hơn nữa, khi một doanh nghiệp nào đó, trong sự phát trên của mình có thể vươn tới đặt các chỉ nhánh ở vùng khác tì sự gắn bó đó khó có thể thực hiện được. Do đó, quan điểm này chưa thấy được sự phát triển của CNNT.

~ Tác giá Phạm kim Luân cho rằng CNNT bao gồm toàn bộ những hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn [7, tr. Nghĩ là ngoài công nghiệp, thủ công nghiệp còn có thương mại dịch vụ. Quan điểm này xuất phát từ việc cho rằng: nói đến công nghiệp là nói đến tính chất sản xuất hàng hoá. thể tồn tại và phát triển công nghiệp phải gắn bó chặt chẽ với thương mại dịch vụ thành một thể thống nhất hài hoà.

Do vậy phạm vi của CNNT cần bao gồm các loại hoạt động phi nông nghiệp - cả sản xuất lẫn phi sản xuất. này có những vấn đề cần xem xét. Thứ nhất, vì hình thức, tính chất hoạt động. thương mại dịch vụ khác với hình thức, tính chất hoạt động công nghiệp, cho nên, không thể đồng nhất giữa thương mại dịch vụ với công nghiệp được.

Thức hai, Tinh vực thương mại dịch vụ hiện nay đã trở thành mộthoạt động kinh tế độc lập đã tích ra khỏi hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. theo chúng tôi không thể gộp thương mại dịch vụ vào CNNT được. Từ sau những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về CNNT gắn với những vấn đẻ cụ thể của phát triển CNNT, như với quá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ