Chương 1: Co sé ly luận về phát triển CNNT. “Chương 2: Tình hình phát triển CNNT tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Các giải pháp để phát triển CNNT tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN CNNT 1. KHÁI QUÁT VỀ CNNT 1.
Khái niệm CNNT Khái niệm CNNT chỉ mới xuất hiện vào những năm T0 của thế kỷ XX. Với nhiều tên gọi khác nhau như CNNT, công nghiệp làng xã, xí nghiệp hương trấn. Trong thực tế CNNT đã được hình thành và phát triển như một thực thể kinh tế độc lập, gắn liền với sự phát triển nông nghiệp và nông thôn. từ rất lâu.
Lúc đầu, khái niệm này được dùng dé chỉ tiểu thủ công nghiệp của các hộ dân cư vùng nông thôn ở các nước chậm phát triển. Sau này, khái niệm. 'CNNT được mở rộng bao hàm cả các hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn. CNNT được định nghĩ: khác nhau tùy thuộc các cách tếp.
cận, nghiền cứu nó, tuỳ thuộc đều kiện phát trên của nó. Trên thực tế, ở các nước khác nhau, khái niệm CNNT được hiểu khác nhau. Hiện nay trên thế giới có 4 cách tiếp cận khác nhau về khái niệm CNNT, đó là ~ Ở các nước như: Trung Quốc, Án Độ, Inđônêxia, Công nghiệp nông. thôn được tiếp cận từ giác độ kinh tế lãnh thổ, họ cho rằng: “CNNT được xem như một bộ phận của kinh tế lãnh thổ, CNNT là công nghiệp được phân bồ ở nông thôn” [9, tr.
10] Cách tiếp cận này thường được cán bộ quản lý kinh tế theo lãnh thổ và các cán bộ thực tiễn ở địa phương sử dụng, vì nó phủ hợp với lợi ích của các cơ quan quản lý nhà nước trên các vùng lãnh thồ như: dễ quy hoạch, dễ tập hợp số liệu, dé chi đạo.Tuy nhiên cách tiếp cận này thường. làm cho xu hướng phát triển CNNT khép ki tronggiới hạn của kih tế địa phương. Hậu quả là nó bị tách khỏi công nghiệp cả nước, tách khỏi sự phát triển chung với tư cách là một ngành kinh tế - kỹ thuật, dẫn đến sự mắt cân đối trong nội bộ ngành. Như vậy, với cách tiếp cận này, không thẻ hiện rõ tính toàn diện, tính hệ thống và chưa chú ý đúng mức tới quan hệ kinhtế - kỹ thuật của khu vực kinh tế nông thôn.
Tuy vậy, quan niệm này có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát trên của CNNT trên vùng lãnh thô do địa phương quản lý, tới sự thành công của việc trên khai các chương trình dự án phát triển CNNT. ~ Cách tiếp cận thứ hai là của các nước như Mêhicô, Braxh, Hàn Quốc, tô chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc. Cách tiếp cận này từ giác độ kinh 8É ngành. Họ cho rằng: “CNNT được xem như là một bộ phận của.
toàn bộ công nghiệp, có đặc điểm là phân bố ở nông thôn, gắn bó với các đơn vị sản xuấtkinh doanh khác trong ngành bởi những quan hệ kinh tế - kỹ thuật, việc phát triển nó phải được đặt trong chương trình phát triển công nghiệp nói chung, là một nội dung của công nghiệp hoá” [9, tr. Cách tếp cận này thường dễ được chấp nhận từ phía các cán bộ lãnh đạo ngành vì gắn với công, tác quy hoạch, phân bố điều chỉnh, theo dõi tình hình phát triển của ngành. Nhưng do quá nhắn mạnh mối quan hệ về kinh tế - kỹ thuật của ngành làm. cho mối quan hệ giữa CNNT với các ngành khác ở nông thôn thiếu gắn bó, vì vậy, việc khai thác các nguôn lực, tiềm năng địa phương kém hiệu quả.
~ Cách tiếp cận từ giác độ kinh € - xd he : Đài Loan cho rằng: “CNNT. được xem h toàn bộ những hoạt động sản xuất có tính công nghiệp ở nông, thôn, là những biện pháp góp phần phát triển kinh tế -xã hội nông thôn và giải quyết những nhiệm vụ kinh tế xã hội ở nông thôn nói chung và mỗi ving nông thôn cụ thể nói riêng” [9, tr. Cách tiếp cận này xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội ở những vùng nông thôn kém phát triển. Muốn thay đôi hiện trạng ở khu vực này, lối thoát duy nhất là phát trên các hoạt động sản.
xuất có tính công nghiệp. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở sự phát trên CNNT thì đến một khoảng thời gian nào đó, sự phát trên đó không còn ý nghữ, vì không đặt sr phát triển CNNT trong tổng thể sự phát trên công nghiệp nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung. Như vậy, với cách tiếp cận này chưa thê hiện được tính hệ thống, tính chiến lược trong quá trình. phát triển CNNT.
~ Cách tiếp cận xuất phát từ &inh tế - tổ chức: Đây là cách tiếp cận của. trung tâm phát triển nông thôn toàn diện khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ho xem khuôn khổ gia đình và qui mô vừa và nhỏ của các hoạt động được gọi là CNNT [4, tr. Cơ sở của quan niệm này xuất phát từ bối cảnh dân số nông thôn tăng nhanh, cơ hội kiếm việc làm trong nông nghiệp giảm, cho.
nên CNNT và công nghiệp hộ gia đình đã nổi bật như một tiềm năng giải quyết được việc làm ở nông thôn. Quan niệm này phù hợp với điều kiện thực tế ở nhiều nước đang phát triển, nhưng khái niệm CNNT chưa nói rõ CNNT bao gồm những ngành nghề gì, dễ đi đến nhận định tt ca các hoạt động phi nông nghiệp đều là CNNT. Từ các cách tiếp cận trên, cho thấy không thể dừng lại từng cách tiếp cận riêng lẻ mà phải xuất phát từ quan điểm toàn diện. Nghĩa là, phát trên 'CNNT là một vấn đề kinh tế xã hội chứ không phải đơn thuần là vấn đề knh tế; vừa gắn với chiến lược, chương trình phát triển các ngành kinh tế - kỹ thuật cả nước, vừa với mục tiêu kinhtế, chính trị và xã hôiở địa phương mà trước hết là nông thôn.
Ở Việt Nam, từ sau Đại hội Dang lần thứ VI (1986) đặc biệt sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4/1988) và các nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VII, VI, đã có nhiều công trình nghiên cứu. về CNNT và cũng đã có nhiều quan niệm khác nhau về CNNT như sau: ~ Theo tác gả Nguyễn Văn Phúc: CNNT chỉ là tiểu thủ công nghệp. được phân bố ở nông thôn [9, tr. Nó được xem là một bộ phân kinh tế địa phương nhằm cung cấp bổ sung các sản phẩm hàng hoá trong trường hợp.
xí nghiệp công nghiệp quốc doanh không cung cấp đủ hoặc bỏ qua không sản xuất. Như vậy CNNT có thể tồn tại hay không tồn tại tuỳ thuộc vào vai trò và năng lực của các xí nghiệp quốc doanh. Quan điểm này đã làm cản trở sự phát triển của CNNT, vì chỉ thấy chức năng “bỗ sung” của CNNT chứ chưa nhận. thấy hết được ý nghĩa vai trò của việc phát triển CNNT.
~ Tác giá Nguyễn Đình Phan xem CNNT bao gồm toàn bộ công nghiệp. ở nông thôn không cần phân biệt các đơn vị công nghiệp đó có gắn gì đến. kinh tế nông thôn hay không [8, tr. Với quan điểm này dẫn đến việc đánh.
giá không chính xác sự phát trền kinh tế - xã hội nông thôn. Chẳng hạn, có xí nghiệp công nghiệp tuy phân bố ở nông thôn nhưng không có gì gắn với kinh tế nông thôn, với doanh thu rất lớn, sẽ làm cho tỷ trọng công nghiệp ở đó tăng lên dẫn đến sự ngộ nhận là cơ cấu kinh tế nông thôn ở đó đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ đúng hướng. Từ đó có thể dẫn đến có những chính sách phát triển kinh tế - xã hội nông thôn không phủ hợp. - Nguyễn Trung Quế và nhóm tác giả coi CNNT là bộ phận công nghiệp phục vụ trực tiếp cho nông thôn, nhưng không nhất thiết phải nằm ở nông thôn [10, tr.
Quan điểm này chỉ nói lên được mối quan hệ giữa công. nghiệp với nông nghiệp, nông thôn, chứ chưa giúp gì cho việc nghiên cứu. Thật vậy, trong thực tế hẳu hết các ngành công nghiệp đều có phần phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Nếu chấp nhận quan điểm này thì sẽ gặp trở.
ngại rất nhều trong quá trình nghiên cứu CNNT. Trước hết, không thể phân biệt CNNT với công nghiệp đô thị. Thứ hai, là khó xác định doanh nghiệp nào đó có phải thuộc CNNT hay không vì nhiều doanh nghiệp không chỉ sản xuất phục vụ riêng nông thôn và nông nghiệp. ~ Một nhóm tác giả khác quan niệm CNNT R bộ phận công nghiệp nằmở nông thôn, có gắn bó trực tiếp và chặt chẽ với sản xuất kinh doanh ở.
địa phương Quan điểm này dễ thuyết phục hơn, nhưng chưa thấy được xu hướng thị trường địa phương nông thôn ngày càng mở rộng, nên tính gắn bó. của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh với kinh tế địa phương ngày càng thu hẹp. Hơn nữa, khi một doanh nghiệp nào đó, trong sự phát trên của mình có thể vươn tới đặt các chỉ nhánh ở vùng khác tì sự gắn bó đó khó có thể thực hiện được. Do đó, quan điểm này chưa thấy được sự phát triển của CNNT.
~ Tác giá Phạm kim Luân cho rằng CNNT bao gồm toàn bộ những hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn [7, tr. Nghĩ là ngoài công nghiệp, thủ công nghiệp còn có thương mại dịch vụ. Quan điểm này xuất phát từ việc cho rằng: nói đến công nghiệp là nói đến tính chất sản xuất hàng hoá. thể tồn tại và phát triển công nghiệp phải gắn bó chặt chẽ với thương mại dịch vụ thành một thể thống nhất hài hoà.
Do vậy phạm vi của CNNT cần bao gồm các loại hoạt động phi nông nghiệp - cả sản xuất lẫn phi sản xuất. này có những vấn đề cần xem xét. Thứ nhất, vì hình thức, tính chất hoạt động. thương mại dịch vụ khác với hình thức, tính chất hoạt động công nghiệp, cho nên, không thể đồng nhất giữa thương mại dịch vụ với công nghiệp được.
Thức hai, Tinh vực thương mại dịch vụ hiện nay đã trở thành mộthoạt động kinh tế độc lập đã tích ra khỏi hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. theo chúng tôi không thể gộp thương mại dịch vụ vào CNNT được. Từ sau những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về CNNT gắn với những vấn đẻ cụ thể của phát triển CNNT, như với quá.