Luận văn thạc sĩ: Phát triển nông nghiệp tại huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum

Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển nông nghiệp tại huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, phân tích tiềm năng và thách thức trong phát triển bền vững.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

120
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn kinh tế Tổng quan phát triển nông nghiệp Sa Thầy

Luận văn thạc sĩ kinh tế về phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum cung cấp một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về một khu vực kinh tế trọng điểm của vùng Tây Nguyên. Huyện Sa Thầy, với đặc thù là một huyện thuần nông, xác định nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò nền tảng cho sự ổn định và tăng trưởng kinh tế - xã hội. Nghiên cứu này hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất những giải pháp chiến lược nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng sẵn có. Vị trí địa lý của Sa Thầy, một huyện miền núi biên giới, đặt ra cả thách thức về giao thương và cơ hội trong việc bảo vệ an ninh quốc phòng và hệ sinh thái. Tài liệu đi sâu vào việc phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội để làm rõ những lợi thế và hạn chế, tạo cơ sở khoa học cho các định hướng phát triển trong tương lai. Mục tiêu chính là thúc đẩy một nền nông nghiệp bền vững Sa Thầy, không chỉ tăng trưởng về sản lượng mà còn cải thiện về chất lượng, nâng cao giá trị gia tăng và quan trọng nhất là nâng cao thu nhập cho nông dân, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Sa Thầy.

1.1. Đánh giá tiềm năng nông nghiệp Sa Thầy qua điều kiện tự nhiên

Các điều kiện tự nhiên huyện Sa Thầy là yếu tố nền tảng quyết định đến định hướng sản xuất nông nghiệp. Huyện có địa hình đa dạng, chia thành ba dạng chính: núi cao, đồi lượn sóng và vùng thung lũng bằng phẳng. Dạng địa hình đồi lượn sóng (chiếm khoảng 52.098ha) và thung lũng (86.300ha) đặc biệt thuận lợi cho việc phát triển các cây công nghiệp chủ lực Kon Tum như cao su, cà phê, cũng như cây lương thực, hoa màu. Khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên với hai mùa mưa khô rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23°C, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng quanh năm. Về tài nguyên đất, theo Niên giám thống kê huyện Sa Thầy, nhóm đất Xám chiếm tỷ lệ lớn nhất với 97,88% tổng diện tích, phù hợp với nhiều loại cây trồng. Hệ thống sông suối dày đặc, đặc biệt là thượng nguồn sông Sê San, không chỉ cung cấp nguồn nước tưới tiêu dồi dào mà còn có tiềm năng phát triển thủy sản và thủy điện, điển hình là Thủy điện Ya Ly. Những yếu tố này tạo nên một bức tranh tổng thể về tiềm năng to lớn cần được quy hoạch và khai thác một cách hợp lý để phát triển kinh tế nông thôn.

1.2. Yếu tố kinh tế xã hội huyện Sa Thầy ảnh hưởng đến nông nghiệp

Bên cạnh tiềm năng tự nhiên, các yếu tố kinh tế xã hội huyện Sa Thầy cũng tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển nông nghiệp. Theo số liệu năm 2010, dân số huyện đạt 42.271 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 57,6%. Nguồn lao động dồi dào với 25.159 người trong độ tuổi lao động là một lợi thế. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ chiếm khoảng 5-7%, phần lớn chưa có tay nghề và chưa quen với phong cách sản xuất công nghiệp. Đây là một rào cản lớn trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp. Cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông, thủy lợi, dù đã được đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 7,95 triệu đồng, dù đã tăng nhưng vẫn còn thấp so với mức trung bình của tỉnh, cho thấy đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Những đặc điểm này đòi hỏi các giải pháp phát triển nông nghiệp phải gắn liền với việc đào tạo nghề, cải thiện hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội.

II. Phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Sa Thầy

Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Sa Thầy trong giai đoạn 2005-2010 cho thấy những bước tiến đáng kể nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục. Giai đoạn này chứng kiến sự tăng trưởng ổn định về giá trị sản xuất và những bước đi đầu tiên trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GO) bình quân toàn huyện đạt 13,9%/năm, trong đó ngành nông nghiệp đóng góp với mức tăng trưởng 9,1%/năm. Đây là con số tích cực, phản ánh nỗ lực của địa phương trong việc đầu tư và phát triển sản xuất. Các mô hình sản xuất hàng hóa bước đầu được hình thành, tập trung vào các cây trồng có lợi thế như cao su, sắn, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn. Tuy nhiên, sự phát triển này chưa thực sự bền vững và chưa tương xứng với tiềm năng. Nền nông nghiệp của huyện vẫn còn manh mún, kinh tế hộ vẫn chiếm chủ đạo và mang nặng tính tự cung tự cấp. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm, hiệu quả sản xuất chưa cao, và khả năng cạnh tranh của nông sản trên thị trường còn yếu. Phân tích sâu các tồn tại và nguyên nhân là cơ sở quan trọng để xây dựng các giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Kon Tum một cách hiệu quả tại Sa Thầy.

2.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Trong giai đoạn 2005-2010, cơ cấu kinh tế huyện Sa Thầy đã có sự thay đổi theo hướng tích cực, thể hiện rõ xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo số liệu từ Luận văn (Bảng 2.8), tỷ trọng ngành Nông-Lâm-Thủy sản trong tổng giá trị sản xuất đã giảm từ 57,73% năm 2005 xuống còn 37,96% năm 2010. Ngược lại, tỷ trọng ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng mạnh từ 28,16% lên 42,95%. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp này là một tín hiệu đáng mừng, cho thấy nền kinh tế của huyện đang dần thoát khỏi sự phụ thuộc vào nông nghiệp thuần túy. Trong nội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu cây trồng cũng có sự chuyển đổi, giảm diện tích cây lương thực và tăng diện tích các cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao hơn. Điển hình là diện tích cây cao su tăng từ 4.047 ha năm 2005 lên 8.250 ha vào năm 2010. Tuy vậy, quá trình chuyển dịch này vẫn còn mang tính tự phát ở một số nơi và chưa gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ.

2.2. Những tồn tại và nguyên nhân trong sản xuất nông nghiệp

Mặc dù đạt được một số thành tựu, nền nông nghiệp Sa Thầy vẫn còn đối mặt với nhiều tồn tại. Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm và thiếu đồng bộ. Việc tiếp thu, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp của một bộ phận người dân còn hạn chế. Kinh tế hộ chậm phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa; kinh tế trang trại dù đã hình thành nhưng còn mang tính tự phát, quy mô nhỏ. Một trong những nguyên nhân chính là do trình độ dân trí và năng lực sản xuất của lao động nông nghiệp còn thấp, đặc biệt là bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống khuyến nông, khuyến ngư chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản giữa nông dân và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, khiến nông dân thường xuyên đối mặt với rủi ro về giá cả và thị trường. Nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và vốn tự có của người dân, chưa thu hút mạnh mẽ các nguồn lực từ bên ngoài. Đây là những nút thắt cần được tháo gỡ để thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững.

III. Giải pháp quy hoạch chính sách phát triển nông nghiệp

Để khắc phục những tồn tại và phát huy tiềm năng, việc xây dựng các giải pháp đồng bộ về quy hoạch và chính sách là yêu cầu cấp thiết cho sự phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Các giải pháp này phải tập trung vào việc tạo ra một hành lang pháp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi, khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Trọng tâm là hoàn thiện công tác quy hoạch sử dụng đất, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh tập trung, quy mô lớn, gắn với lợi thế của từng tiểu vùng. Quy hoạch không chỉ dừng lại ở việc phân bổ đất đai mà còn phải tích hợp với quy hoạch thủy lợi, giao thông, và các hạ tầng dịch vụ khác. Song song đó, việc xây dựng và thực thi hiệu quả các chính sách hỗ trợ nông nghiệp Kon Tum tại địa phương đóng vai trò quyết định. Các chính sách này cần bao trùm nhiều lĩnh vực từ đất đai, tín dụng, khuyến nông đến xúc tiến thương mại, nhằm tạo động lực mạnh mẽ cho người nông dân và doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới, đầu tư vào sản xuất, hướng tới một nền nông nghiệp bền vững Sa Thầy.

3.1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp Kon Tum tại Sa Thầy

Việc hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ nông nghiệp Kon Tum là đòn bẩy quan trọng. Cần tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách đất đai, tạo điều kiện cho nông dân tích tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Các chính sách tín dụng ưu đãi cần được mở rộng, đơn giản hóa thủ tục để người dân, đặc biệt là hộ nghèo và cận nghèo, dễ dàng tiếp cận nguồn vốn để đầu tư vào giống mới, vật tư và công nghệ. Chính sách khuyến nông cần được đổi mới, không chỉ chuyển giao kỹ thuật mà còn phải tư vấn về thị trường, quản trị sản xuất. Đồng thời, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến và dịch vụ hậu cần, thông qua các ưu đãi về thuế, tiền thuê đất. Chính sách thu hút đầu tư phải gắn liền với việc cam kết xây dựng liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản, đảm bảo đầu ra ổn định cho người nông dân.

3.2. Quản lý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp

Quy hoạch phải đi trước một bước và được quản lý chặt chẽ. Cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội gắn với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở Sa Thầy. Công tác quy hoạch phải xác định rõ các vùng chuyên canh cho các cây công nghiệp chủ lực Kon Tum như cao su, cà phê, và các vùng trồng cây lương thực, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Việc quy hoạch phải dựa trên cơ sở đánh giá tiềm năng nông nghiệp Sa Thầy một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và tập quán canh tác của người dân. Sau khi quy hoạch được phê duyệt, cần công khai rộng rãi và có cơ chế giám sát chặt chẽ việc thực hiện, tránh tình trạng quy hoạch treo hoặc sử dụng đất sai mục đích, gây lãng phí nguồn tài nguyên quý giá.

IV. Phương pháp phát triển nông nghiệp Sa Thầy bền vững

Để hiện thực hóa các mục tiêu, cần áp dụng các phương pháp và mô hình sản xuất tiên tiến nhằm thúc đẩy một nền nông nghiệp bền vững Sa Thầy. Hướng đi này không chỉ tập trung vào việc tăng năng suất mà còn chú trọng đến hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và ổn định xã hội. Trọng tâm của các phương pháp này là đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, từ khâu giống, canh tác, đến thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch. Việc cơ giới hóa các khâu sản xuất, áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến như VietGAP sẽ giúp giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh. Một yếu tố then chốt khác là phải tổ chức lại sản xuất. Cần khuyến khích và hỗ trợ phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, tổ hợp tác và kinh tế trang trại. Những mô hình này sẽ là cầu nối hiệu quả để thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản, phá vỡ thế sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, giúp người nông dân tham gia vào các chuỗi giá trị lớn hơn.

4.1. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ

Tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp là giải pháp đột phá để nâng cao giá trị sản xuất. Cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, chọn tạo và nhập nội các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao, chất lượng tốt và thích ứng với biến đổi khí hậu. Hệ thống khuyến nông phải được củng cố để trở thành kênh chuyển giao công nghệ hiệu quả đến từng hộ nông dân. Các hoạt động này bao gồm việc xây dựng các mô hình trình diễn, tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM), và hướng dẫn sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật một cách hợp lý. Đồng thời, cần khuyến khích cơ giới hóa trong các khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch để giải phóng sức lao động, hạ giá thành sản phẩm và đảm bảo tính thời vụ, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân.

4.2. Hoàn thiện các mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp

Để phát triển sản xuất hàng hóa, cần phải đổi mới và hoàn thiện các mô hình tổ chức sản xuất. Kinh tế hộ gia đình vẫn là đơn vị cơ bản nhưng cần được định hướng phát triển theo hướng chuyên môn hóa, gia tăng quy mô và liên kết với nhau. Cần có chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, tạo điều kiện về đất đai, vốn và kỹ thuật để các trang trại trở thành những hạt nhân sản xuất hàng hóa lớn. Đặc biệt, cần phát triển mạnh mẽ các hình thức kinh tế hợp tác như hợp tác xã, tổ hợp tác. Các hợp tác xã kiểu mới sẽ đóng vai trò trung tâm trong việc cung ứng dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất theo quy trình chung và đại diện cho nông dân trong việc ký kết hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản với doanh nghiệp, đảm bảo sự hài hòa lợi ích và giảm thiểu rủi ro cho người sản xuất.

V. Định hướng phát triển kinh tế nông thôn Sa Thầy tới 2020

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các giải pháp đề xuất, định hướng phát triển nông nghiệp huyện Sa Thầy trong giai đoạn tới cần có tầm nhìn chiến lược, rõ ràng. Mục tiêu tổng quát là xây dựng một nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao. Nền nông nghiệp này phải gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến, thị trường và chương trình xây dựng nông thôn mới ở Sa Thầy. Phấn đấu đưa nông nghiệp thực sự trở thành nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội huyện Sa Thầy. Để đạt được mục tiêu này, cần tập trung vào việc tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ, phát triển mạnh các sản phẩm chủ lực có lợi thế cạnh tranh. Song song đó, việc huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, đặc biệt là vốn đầu tư cho hạ tầng và công nghệ, là yếu tố quyết định. Cuối cùng, mọi định hướng phát triển đều phải lấy con người làm trung tâm, với mục tiêu cuối cùng là nâng cao thu nhập cho nông dân và cải thiện chất lượng cuộc sống ở khu vực nông thôn.

5.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế nông thôn

Phương hướng chung là phát triển nông nghiệp toàn diện, đa dạng hóa sản phẩm nhưng có trọng tâm, trọng điểm. Cần xác định các sản phẩm chủ lực để tập trung đầu tư, bao gồm nhóm cây công nghiệp chủ lực Kon Tum (cao su, cà phê), nhóm cây nguyên liệu (sắn), và phát triển chăn nuôi gia súc theo hướng trang trại. Mục tiêu cụ thể là đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp ổn định, nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích. Đồng thời, phát triển kinh tế nông thôn không chỉ giới hạn trong nông nghiệp mà còn phải đẩy mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp, dịch vụ để tạo thêm việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động. Việc này sẽ giúp giảm áp lực lên đất đai và tài nguyên, tạo ra sự phát triển hài hòa và bền vững.

5.2. Các kiến nghị nhằm thúc đẩy nông nghiệp bền vững Sa Thầy

Để các định hướng và mục tiêu trở thành hiện thực, luận văn đề xuất một số kiến nghị cụ thể. Đối với cấp huyện và tỉnh, cần tăng cường đầu tư cho hạ tầng nông thôn, đặc biệt là giao thông và thủy lợi. Cần có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi giá trị nông sản. Đối với các cơ quan chuyên môn, cần nâng cao năng lực của hệ thống khuyến nông, đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ. Cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường hiệu quả để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong việc ra quyết định sản xuất kinh doanh. Quan trọng hơn cả, cần tiếp tục quan tâm đến công tác đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ lao động nông thôn, giúp họ trở thành những người nông dân chuyên nghiệp, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện sa thầy tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chương l: Cơ sở lý luận vẻ phát trên nông nghiệp. Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thay. Chương3: Một số giải pháp đẩy manh phat trién néng nghigp cia huyện Sa Thầy trong thời gian đến. Chwong 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN NOI NGHIỆP.

Đặc điểm, vai trò của nông nghiệp 1. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp à một ngành của nền kinh tế quốc dân, sản xuất lương. thực, thực phẩm cho tiêu dùng và nguyên liệu cho công nghiệp. Theo nghĩa hẹp thì nông nghiệp chỉ có trồng trọt và chăn nuôi; Ngành trồng trọt bao.

gồm sản xuất ngũ cốc, cây công nghiệp, trồng rau, làm vườn, trồng cỏ.; Ngành chăn nuôi bao gồm việc nuôi đại gia súc có sừng như: Bỏ, cừu, lợn, nuôi gia cầm. Còn nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả ba nhóm ngành: Nông nghiệp thuần túy (Trồng trot và chăn nuô), lâm nghiệp và thủy sản (gọi là nông - lâm— thủy sản). Trong luận văn này nông nghiệp dược nghiên cứu theo nghĩa rộng. Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng.

của nền kinh tế quốc dân (là ngành duy nhất sản xuất được lương thực, thực phẩm). Do hoạt động nông nghiệp có từ lâu đời, nên còn được coi là lĩnh vực sản xuất truyền thống; hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội, mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là: Thứ nhất, Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phụ thuộc vào diéu kién ne nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặc điểm trên cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Thế nhưngở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất dai và thời tiết - khí hậu khác nhau.

Lịh sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đấtở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau. Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ âm, ánh sáng. trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất. Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã ầm cho nông nghiệp.

mang tính khu vực rất rõ nét Đặc điêm này đòi hỏi quá trình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp cần chú ý các vấn đề kinh É - kỹ thuật sau đây: ~ Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên vẻ nông - lâm - thuỷ sin trên phạm vi cả nước cũng như tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp. - Việc xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệpở từng. - Hệ thống các chính sách kinh tế phải phủ hợp với điều kiện từng. vùng, từng khu vực nhất định.

Thứ hai, Trong nông nghiệp, ruộng đất là ta liệu sản xuất chủ yếu không thẻ thay thể được. Trong nông nghiệp, đắt đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu ho động: đất đai là môi trường sống không thê thiếu được của cây trồngvà gia súc. phì nhiều của đất đai là một yếu tố quyết định năng suất cây trồng và năng. suất lao động trong nông nghiệp.

Vì vậy, bảo vệ và không ngừng làm tăng độ phì nhiêu màu mỡ của đắt đai là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người lao động trong nông nghiệp, Tuy nhiên, mộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không. thé tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất mộng đất là chưa có giới hạn, nghĩa con người có thể khai thác chiều sầu của mộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm Vì thế sử dụng đất đai cần phải tết kiệm, phải tìm mọi biện pháp đầu tư vào đất đai theo chiều sâu, cải tạo để ồn định lâu dài và nâng cao độ phì nhiêu của ất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất m: nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chỉ phí thấp nhất trên đơn vị sản. phẩm, mang lại lợi nhuận ngày càng cao cho người sản xuất. Thứ ba, Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thẻ sống - cây trồng và vật nuôi.

Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với yếu tố. ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát trên của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các gống hiện có, nhập nội những.

giống tốt tiến hành lai tạo để tạo ma những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương. Thit ac, Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Tính thời vụ là nét đặc thủ điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, vì một mặt sản xuắt nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn chặt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kề nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao. trong nông nghiệp.

Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó. Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết - khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng. nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau. Vì vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với người nông dân.

Tạo hoá đã cung. cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, như: ánh sáng, ôn độ, độ am, lượng mưa, không khí. Lợi thế tự nhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chỉ phí thấp chất lượng. Để khai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thền nhiền đối với nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu.

đó, việc thực hiện kịp thời vụ sẽ dẫn đến tình trạng căng thăng về ho. động đồi hỏi phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư - kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việ bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làmở những thời kỳ nông nhàn Ngoài những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp nêu trên, nông. nghiệp nước ta còn có nhữngđặc điểm riêngcần chú ý đó là: ~ Nông nghiệp nước ta từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệp nước ta khi chuyên lên phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là rất thấp s với các nước trong khu vực và thế giới.

nhiều nước có nền kinh tế phát triển, nông nghiệp đã đạt trình độ sản xuất hàng hoá cao, nhiều khâu công việc được thực hiện bằng máy móc, một số. loại cây, con chủ yếu được thực hiện cơ giới hoá tông hợp hoặc tự động hoá. Năng suất ruộng đắt và năng suất lao động đạt trình độ cao, tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nên kinh É quốc dân. Tỷ lệ dân số và lao động nông nghiệp gảm xuống cả tương đối và tuyệt đối, đời sống người dân nông nghiệp và nông thôn ngày cảng được nâng cao.

“Trong khi đó, nông nghiệp nước ta với điểm xuất phát rất thắp, cơ sở vật chất nghèo nàn, kết cấu hạ tằng nông thôn còn yếu kém, lao động thuần nông chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao động thấp. Khi chuyển sang nên kinh tế thị trường, Đảng đã khẳng định phát triển nền nông nghiệp nhiều thành phần và hộ nông dân được xác định là đơn vị tự chủ, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển và đạt được những thành tựu to lớn, nhất là về sản lượng lương thực. Sản xuất lương thực không những đáp ứng được nhu cầu trong nước, có dự trữ mà còn dư thừa để xuất khâu. Bên cạnh đó một số sản phim nông nghiệp như cà phê, cao su, chè, hạt điều.

đang là nguồn xuất khâu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Nông nghiệp nước ta đang chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá, đang chuyển dịch cơ cấu kinh tÉ nông nghiệp và nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp tăng sản phẩm. phi nông nghiệp. Để đưa nền knh tế nông nghiệp nước ta phát triển đến trình độ sản xuất hàng hóa cao, cần phải bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn.

Khân trương xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nông nghiệp và hệ thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn phù hợp. Bỗ sung, hoàn thiện và đôi mới hệ thống chính sách kinh tế nông nghiệp, nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất, tạo động lực thúc đây sản xuất phát triển hàng. Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh cho nông nghiệp và nông thôn. - Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được tải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp: trung du, miễn núi, đồng bằng và ven biên.

Đặc điểm này đem lại cho nông nghiệp nhiều thuận lợi cơ bản, đồng. thời cũng có những khó khăn rất lớn trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp. Thời tiết, khí hậu của nước ta có những thuận lợi cơ bản, đó là hing 10 năm có lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt rất phong phú cho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ