Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE PHAT TRIEN KHU CÔNG NGHIỆP. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP. Một số khái niệm, đặc điểm cơ bản Theo Điều 2: "Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao", được Chính phủ ban hành năm 1997. Khu công nghiệp 4) Khái niệm Khu công nghiệp (Industrial Park) là khu tập trung các doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định có dân cư sinh sống; do Chủ tịch UBND tỉnh/Thành phố ra quyết định thành lập sau khi có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.
Trong KCN có thể có KCX, doanh nghiệp chế xuất b) Đặc điểm ~ KCN có vị trí địa lý xác định, có thể có hoặc không có hàng rào ngăn cách, không có cư dân sinh sống. ~ KCN được thành lập để thu hút các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ phục ~ Đơn vị chủ đầu tư KCN thuê đất Nhà nước và đầu tư hạ ting và thu phí. ~ Được quản lý bởi một cơ quan chuyên trách là Ban quản lý KCN cấp tinh theo cơ chế ủy quyền của các gành, với cơ chế một cửa, Ot dau moi, wu dai thuế thu nhập doanh nghiệp, không phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Khu chế xuất 4) Khái nỉ Khu chế xuất (Export Processing Zone) la khu tap trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khâu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng và hoạt đông xuất khẩu, có ranh giới dia lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
b) Đặc điểm Ngoài những đặc điểm của KCN, KCX có một số đặc điểm riêng như: = Quan hệ giữa trong KCX và bên ngoài là quan hệ xuất nhập khẩu, người ra vào KCX phải có thẻ kiểm tra, nhưng không coi như là xuất nhập cảnh. - Bắt buộc có hàng rào phân cách giữa KCX và nội địa 1. Khu công nghệ cao a) Khái niệm Khu Công nghệ cao (/fi-7ech Park) là khu kinh tế - kỹ th đa chức năng, có ranh giới xác định, do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lại nhằm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công ngi đào tạo nhân lực công nghệ cao và sản xuất, kinh doanh sản phẩm công nghệ cao. Trong khu công nghệ cao có thể có KCX, kho ngoại quan, khu bảo thuế, khu nhà ở.
b) Đặc điểm ~ Có ranh giới địa lý nhất định ~ Ngoài hoạt động sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất, còn có hoạt động. nghiên cứu khoa học và triển khai, chuyển giao công nghệ, huấn luyện và đào tạo nhân lực có trình độ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao. Sản phẩm mang hàm lượng cao về công nghệ và chất xám, ít tiêu hao năng lượng. ~ Nơi thu hút chuyên gia và lao động giỏi, ~ Được hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt về thuế, tài chính tín dụng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
~ Có nhiều khu vực đặc biệt khác như KCX, kho ngoại quan, khu bảo thuế và khu nhà ở. Cụm công nghiệp a) Khái niệm Cụm công nghiệp là khu vực sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất do địa phương (cấp quận, huyện) quản lý, không bị điều chỉnh của quy định pháp luật như KCN, KCX, khu công nghệ cao nêu trên. b) Đặc điểm ~ Được quy hoạch chủ yếu phục vụ cho sản xuất nhỏ của địa phương, không đủ năng lực tài chính thuê dắt trong các KCN tập trung. ~ Cấp quản lý trực tiếp là UBND cấp quận/huyện mà không theo quy chế KCN tập trung, việc đầu tư hạ tầng chủ yếu dựa vào ngân sách địa phương.
Phân loại Khu công nghiệp Mặc dù có những đặc điểm chung, những KCN còn có những nét đặc thủ thể hiện tính đa dạng của nó, một cách tổng quát có thể chia KCN thành 4 loại: Một là, các KCN được thành lập trên khuôn viên đã có một số doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động, KCN thuộc loại này gồm có KCN Khanh Hoa, KCN Liên Chiểu (Da Ning), KCN Binh Duong, KCN Tân Tạo, Bình Chiều (Tp Hỗ Chí Minh), KCN Sài Đồng B (Hà Nội). nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển KCN theo đúng quy hoạch mới, đồng thời tạo hạ tầng kỹ thuật phục vụ tốt việc phát triển KCN, có điều kiện xử lý chất thải công nghiệp. Đối với KCN thuộc loại này thì vấn đề quan trọng nhất là nhanh chóng nâng cao hạ tầng kỹ thuật, nhất là các công trình xử lý chất thải công nghiệp, đồng thời đảm bảo tính phù hợp trong quy hoạch xây dựng các công trình kết cầu hạ tầng thuận tiện cho các doanh nghiệp sử dụng. Hai là, các KCN được hình thành nhằm đáp ứng yêu cầu cho việc di dời các nhà máy, xí nghiệp đang ở trong nội thành các đô thị lớn, do nhu cầu chỉnh trang đô.
thị và bảo vệ môi trường, môi sinh mà phải chuyển vào KCN. Hiện nay, do các thành phố phát triển nhanh và quy mô lớn hơn, dân cư tập trung đông hơn nên các cơ sở công nghiệp đã xây dựng trong nội thành chăng những gay mat my quan cho cảnh quan thành phố mà còn gây ô nhiễm môi trường sống cho dân cư đô thị. Việc mở rộng các cơ sở này: đổi mới công nghệ khó thực hiện do không còn diện tích đất và xử lý hạ tầng, bảo vệ môi trường tốn kém. Thuộc diện cần thiết phải di dời có.
Do đó việc hình thành các KCN phục vụ nhu cầu di dời là yêu cầu khách quan thực hiện cảng sớm cảng tốt. Ba là, các KCN hiện đại và có quy mô lớn, xây dựng mới. Thuộc loại KCN. này, hiện nay có 20 trong đó có 13 khu (kể cả KCX) do các công ty nước ngoài đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, như KCN Hải Phòng - Nomura, KCN Singapore, KCN Long Bình - Amator, KCN Bắc Thăng Long.
Nhìn chung các KCN này có tốc độ xây dựng hạ tầng tương đối nhanh và chất lượng hạ tằng đạt tiêu chuẩn quốc tế, có hệ thống xử lý chất thải công nghiệp tiên tiến, đồng bộ và có một số khu vực có nhà máy phát điện riêng, tạo điều kiện hấp dẫn đầu tư đổi mới, các công ty nước ngoài có công nghệ tiên tiến, có khả năng tài chính và làm ăn lâu dài tại Việt Nam. Khả năng vận động xúc tiến đầu tư có điều kiện hơn do bên nước ngoài có liên doanh rộng ở nhiều nước, có kinh nghiệm tiếp thị. Bốn là, các KCN có quy mô nhỏ gắn liền với nguồn nguyên liệu nông, lâm, thủy sản được hình thành ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cứu Long, Đồng bằng Trung du Bắc Bộ và Duyên hải miền Trung. Quá trình phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng trong thế kỷ 21 sẽ đặt ra những yêu cầu mới, nhiệm vụ mới tạo ra những đặc trưng mới cho bộ mặt các KCN.
Cách phân loại trên sẽ phục vụ cho việc tạo ra những thông tin phong phú và hữu ích cho các cấp quản lý và hoạch định chính sách. Vai trò của Khu công nghiệp 1. Thu hút vốn đầu te để phát triển nền kinh tế Đặc điểm của mô hình phát triển các KCN là các nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng đầu tư trên vùng không gian lãnh thổ, là nơi kết hợp sức mạnh của nguồn vốn trong và ngoài nước. Việc kết hợp này được thể hiện trong mối quan hệ giữa cơ.
quan quản lý nhà nước và các nhà đầu tư, giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, giữa người lao động và người sử dụng lao động. Sự kết hợp này còn được thê hiện qua việc kết hợp giữa KCN và KCX với nền kinh tế nội địa. Nếu các mối quan hệ này được thực hiện tốt sẽ góp phần thúc đây nền kinh tế phát triển. Việc phát triển các KCN va KCX sẽ giúp cho nước sở tại thu hút được một nguồn vốn khá quan trọng để phát triển kinh tế quốc gia.
Trong việc quy hoạch lại các mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp, Chính phủ rất khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào các KCN và KCX. Góp phân giải quyết việc làm cho xã hội Các KCN trên thực tế thu hút rất nhiều lao động trực tiếp và gián tiếp. Theo số liệu từ vụ quản lý KCN và KCX thuộc bộ kế hoạch đầu tư, các KCN đã thu hút thêm gần 70 ngàn lao động trực tiếp, nâng tổng số lao động trực tiếp lên hơn 83 ngàn người, không kế gần 2 triệu lao động gián tiếp khác và dự kiến năm 2010 tông số lao động trong các KCN sẽ lên đến 2,5 triệu người. Điển hình như tại Hà Nội chỉ tính 73 doanh nghiệp đi vào hoạt động đã thu hút gần 29.000 lao động bằng 3§% số lao động làm vi tại các doanh nghỉ có vốn FDI trên ia ban, góp phần làm gia tăng chất lượng nguồn nhân lực kể cả lao động quản lý và kỹ năng lao động trực.
Với lực lượng lao động lớn, máy móc thiết bị hiện đại, trình độ quản lý cao sẽ tạo áp lực cho các cơ quan Nhà nước tăng cường đào tạo nguồn nhân lực và bản thân doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội lựa chọn lao động. Tăng kim ngạch xuất khẩu Tập trung sản xuất với vốn đầu tư cao, KCN trở thành nơi cung cấp hàng xuất khẩu nhanh cùng với tốc độ thu hút vốn đầu tư và phát triển KCN. Với điều kiện thuận lợi về dịch vu ha tang, dich vu phy tro, đầu vào, đầu ra, Nhà nước ưu đãi, khuyến khích sản xuất hàng xuất khâu là những điều kiện giúp tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu tại các KCN. Theo quy định của KCN và KCX, các doanh nghiệp trong KCX chủ yếu sản xuất hàng hoá đề xuất khẩu.
Do đó, Kim ngạch xuất khẩu từ các KCN ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khâu quốc gia. Theo số liệu từ vụ quản lý KCN và KCX thuộc bộ kế hoạch đầu tư, các doanh nghiệp trong KCN của cả nước đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp trên 16 tỷ USD (chiếm gần 40% tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp cả nước). Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp trong KCN và KCX đạt khoảng 16,3 tỷ USD (chiếm khoản 23,5% tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của cả nước). Trong đó xuất khẩu đạt gần 8 tỷ USD.