CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là sự giao dịch về tài sản, trong đó ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng tài sản nào đó (tiền, tài sản hoặc uy tín) của mình đối với các chủ thể trong nền kinh tế theo sự cam kết là các chủ thể vay tài sản phải hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng một cách vô điều kiện trên cơ sở các thoả thuận. Thông thường tín dụng ngân hàng chủ yếu là cho vay bằng tiền.
Nhưng do sự đa dạng hoá hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của người vay, từ những năm 70 trở lại đây ngân hàng còn có các hình thức tín dụng như cho thuê vận hành, cho thuê tài chính bằng tài sản hữu hình như máy móc thiết bị, nhà xưởng, văn phòng làm việc… Trên thực tế, việc thực hiện các bảo đảm trong quan hệ tín dụng là có những LVTS Quản lý kinh tế điều kiện cụ thể. Tuy nhiên nhìn chung, xét về mặt bản chất thì sự tin tưởng, tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng là nguồn thu nhập hiện tại cũng như trong tương lai của khách hàng được xem xét như là khả năng trả nợ món vay ngân hàng một cách tốt nhất, khả năng đó được coi là thước đo mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Vai trò của tín dụng ngân hàng Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ: Đây là vai trò cơ bản nhất của tín dụng, nhờ vai trò này của tín dụng mà nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi thừa sang nơi thiếu để sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế. Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn nhàn rỗi bằng huy động và thúc đẩy việc sử dụng vốn cho các nhu cầu sản xuất và đời sống, làm cho hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội tăng.
Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội: Hoạt động tín dụng tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông tín dụng như kỳ phiếu, séc, thẻ thanh toán. thay thế sự lưu thông tiền mặt và làm giảm chi phí in tiền, vận chuyển, 2 bảo quản tiền. Thông qua ngân hàng các khách hàng có thể giao dịch với nhau bằng hình thức chuyển khoản hoặc bù trừ và cũng nhờ hoạt động tín dụng mà các nguồn vốn đang nằm trong xã hội được huy động để sử dụng cho sản xuất và lưu thông hàng hóa, làm cho tốc độ chu chuyển vốn trong phạm vi toàn xã hội tăng lên. Kiểm soát các hoạt động kinh tế: Thông qua tín dụng, nhà nước có thể kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng vay vốn, mà cụ thể là thông qua mục đích vay và giám sát việc sử dụng vốn của khách hàng.
Từ đó có thể theo sát tình hình phát triển của xã hội và có những điều chỉnh thích hợp khi cần thiết. Phân loại tín dụng ngân hàng Tùy vào cách tiếp cận mà người ta chia tín dụng ngân hàng thành nhiều loại khác nhau, một cách tổng quát nhất có thể phân loại tín dụng ngân hàng như sau: Một là, căn cứ vào thời gian cho vay - Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bổ sung vốn lưu động của các hoạt động kinh doanh và các nhu cầu chi tiêu ngắn LVTS Quản lý kinh tế hạn của hộ gia đình, cá nhân. - Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng, được áp dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, máy móc thiết bị, cải tiến, đổi mới thiết bị công nghệ… - Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn từ trên 60 tháng trở lên. Đây là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn cho những dự án có quy mô lớn, thời gian khấu hao dài như nhà xưởng, cơ sở hạ tầng… Hai là, Căn cứ vào mức độ tín nhiệm: Người ta thường chia mức độ tín nhiệm với hai loại: tín dụng đối vật và tín dụng đối nhân.
- Tín dụng đối vật (cho vay có tài sản đảm bảo): đây là loại cho vay có thế chấp tài sản hay có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Loại cho vay này rất phổ biến ở nông thôn và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ của ngành ngân hàng. - Tín dụng đối nhân (cho vay không có tài sản đảm bảo): đây là loại cho vay không có thế chấp tài sản hay sự bảo lãnh của bên thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng hay tính khả thi, hiệu quả của phương án kinh doanh.
3 Ba là, căn cứ vào mục đích sử dụng - Cho vay sản xuất kinh doanh: ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế trên mọi lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, dịch vụ… - Cho vay tiêu dùng: ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như mua sắm các vật dụng đắt tiền, cho vay để trang trãi các chi phí của đời sống, cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng… Bốn là, căn cứ vào hình thức vốn tín dụng - Cho vay bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thức vốn tín dụng ngân hàng được cung cấp bằng tiền. - Cho vay bằng hiện vật: là loại cho vay mà hình thức vốn tín dụng ngân hàng được cung cấp bằng tài sản. Ví dụ như tín dụng thuê mua. Năm là, căn cứ vào phương pháp hoàn trả - Cho vay trả góp: ngân hàng cho vay và khách hàng vay phải hoàn trả dần vốn LVTS Quản lý kinh tế gốc và lãi theo định kỳ.
- Cho vay phi trả góp: ngân hàng cho vay và khách hàng vay phải hoàn trả toàn bộ vốn một lần khi đến hạn. - Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: là loại cho vay của ngân hàng mà việc thu nợ của ngân hàng được thực hiện theo yêu cầu hoàn trả của người đi vay trên cơ sở khả năng của người đi vay và trong thời hạn hợp đồng đã thoả thuận. TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân Trên cơ sở định nghĩa “Tín dụng ngân hàng” nêu trên và trong phạm vi của luận văn này, đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể, vì vậy Tín dụng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất 4 định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể.
Tín dụng cá nhân đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Tín dụng cá nhân đã phát triển từ lâu trên thế giới, nhưng là một khái niệm khá mới ở thị trường Việt Nam. Tuy nhiên tín dụng cá nhân đã nhanh chóng thu hút được nhiều khách hàng và có tiềm năng rất lớn để phát triển. Điểm thuận lợi là quy mô thị trường lớn với dân số đông (khoảng 90 triệu người), đa số trong đó có độ tuổi trẻ, có thu nhập ngày càng cao và có nhu cầu chi tiêu cho nhiều mục đích.
Hiện nay xu hướng tiêu dùng trước, trả sau để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ở các thành phố lớn. Chính vì thế, các sản phẩm tín dụng cá nhân của ngân hàng được khách hàng rất quan tâm. Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng này. Đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân LVTS Quản lý kinh tế Tín dụng cá nhân là loại hình tín dụng khác biệt so với tín dụng doanh nghiệp.
Với phạm vi nghiên cứu của luận văn này, xin đưa ra một số khác biệt như: 1.1 Quy mô mỗi khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn Khách hàng cá nhân thường có hai mục đích vay: Thứ nhất là cá nhân, hộ gia đình vay để bổ sung vốn kinh doanh. Quyền hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình được pháp luật thừa nhận, nhưng do năng lực hạn chế nên hoạt động kinh doanh thường không có quy mô lớn. Thứ hai là cá nhân vay đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng. Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống như mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học… Số tiền cho vay hai mục đích này đều giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng là: tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo.
Tuy nhiên, số lượng các khoản tín dụng cá nhân là rất lớn do hai nguyên nhân: Số lượng khách hàng cá nhân đông do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp. 5 Nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của khách hàng cá nhân, vì khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống.2 Tín dụng cá nhân thường dẫn đến các rủi ro Rủi ro do thông tin bất cân xứng Khi thẩm định cho vay thì thông tin về bản thân khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo.