mở đầu và kết luận, luận văn được tổ chức thành 3 chương. Chương | trinh bày cơ sở lý thuyết về thuế thu nhập doanh nghiệp và kế toán chỉ phí thuế thu nhập doanh nghiệp. Thực trạng kế toán chỉ phí thuế thu nhập doanh nghiệp ở các công ty xây lắp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam được trình bày trong chương 2. Chương 3 đề cập đến các giải pháp hoàn thiện kế toán chỉ phí thuế thu nhập doanh nghiệp trong các công ty xây lắp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUÊ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ KẾ TOÁN CHI PHÍ THUÊ THU NHẬP DOANH NGHIỆP. Thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp. Nhà nước ban hành Luật thuế thu nhập để góp phân thúc đây sản xuất kinh doanh phát triển và động viên một phần thu nhập vào ngân sách Nhà nước; bảo đảm sự đóng góp công bing, hon lý giữa các tổ chức, các nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có thu ập.
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội thông qua và ban hành là tiên vào 10/5/1997, được sửa đổi bỗ sung nhiều lần và ban hành gần đây là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH 12. Xác định thụ nhập chịu thuế “Thu nhập tính thuế trong kỳ được tính theo công thức sau: Thu nhập = Thunhập - (Thunhậpđược + Các khoản lỗ được tính thuế — chịuthuế miễn thuế kết chuyển theo quy địn! “Trong đó, thu nhập chịu thuế được xác định như sau: Thu nhập =Í Doanhthu - Chiphí] + - Các khoan thu nhập khác chịu thuế được trừ 1. Thu nhập chịu thuế Theo VAS 17 - “Thuế thu nhập doanh nghiệp” (đoạn 03), thu nhập chịu thuế là thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của một kỳ, được xác định theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và là cơ sở để tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp (hoặc thu hồi được). Theo Điều 3, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH 12, thu nhập tính.
thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác, kể cả thu nhập tính thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ ở nước ngoài. Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế Điều 8, Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ hướng dẫn việc xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế như sau: Doanh thu dé tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiễn bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng địch vụ kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hàng hóa bán ra là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua. Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ. Chỉ phí được khẩu trừ thuế Việc xác định các khoản chỉ phí được trừ để tinh thu nhập chịu thuế được thực hiện theo nguyên tắc phủ hợp với doanh thu tinh thuế.
Theo quy định tại Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chỉ nếu đáp ứng đủ các điều kiện: ~ Khoản chỉ thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; ~ Khoản chỉ có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các khoản chỉ không được khẫu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Các khoản chỉ không đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên không được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Đây là các khoản chỉ phí doanh nghiệp thực tế đã chỉ nhưng không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, các khoản chỉ không có chứng từ hợp pháp, các khoản trích khấu hao, trích lập dự phòng không đúng quy định hiện hành, các khoản chỉ phí vượt định mức cho phép. Các khoản thu nhập chịu thuế khác.
Các khoản thu nhập chịu thuế khác trong kỳ tính thuế bao gồm: thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ chuyển nhượng, thanh lý tài sản (trừ bắt động sản); giấy tờ có giá khác; Từ các nội dung trên ta có thể thấy được đặc điểm xác định thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: Việc xác định thu nhập chịu thuế phần lớn dựa vào cơ sở dồn tích và chỉ phí được khấu trừ thuế phải “phù hợp” với doanh thu tạo ra trong kỳ. Bên cạnh đó, mọi khoản chỉ phí đều phải có chứng từ hợp pháp chứng minh. Tuy nhiên, luật thuế vẫn cho phép một số khoản chỉ không có hóa đơn được khấu trừ thuế khi mua vào trong trường hợp là hàng hóa nông lâm sản, thủy sản của người sản xuất đánh bắt bán ra; mua sản phẩm thủ công, đắt, đá, cát sỏi của người dân tự khai thác và được phép lập Bảng kê mua hàng hóa, dịch vụ. Quy định này hoàn toàn phù hợp với điều kiện của nước ta hiện nay.
Đối với chỉ phí khấu hao tài sản cố định, Luật thuế cũng cho phép tính khấu hao vào chỉ phí hợp lý của một số tài sản cố định không dùng trực tiếp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, cụ thể là khấu hao các công trình phúc lợi cho người lao động như nhà nghĩ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, bể chứa nước sạch. Luật thuế quy định chỉ tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao động được khấu trừ thuế nhưng nếu hết thời hạn nộp hỗ sơ quyết toán chưa chỉ thì không được khấu trừ thuế Có thể thấy rõ, quy định này có phần bảo vệ quyền lợi của người lao động trước tình trạng nợ lương kéo dài tại một số doanh nghiệp. Luật mới cho phép doanh nghiệp được trừ chỉ phí lãi vay khỏi thu nhập chịu thuế không vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Công bố. Theo luật thuế năm 2003 quy định mức lãi vay tối đa không vượt quá 1.2 lần mức lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại.
Theo các công ty, việc thay đổi này đã giúp doanh nghiệp rất nhiều trong vấn đề huy động vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh. Đối với hoạt động cho thuê tài sản, doanh thu ghi nhận theo yêu cầu của thuế là số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê. Trường hợp bên thuê trả tiền trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được phân bổ cho số năm trả tiền trước. Quy định này đã tạo ra sự tương đồng với chế độ kế toán.
Tuy nhiên, theo các công ty thì luật thuế hiện hành quy định mức tối đa của một số chỉ phí được khấu trừ thuế chưa hợp lý: như chỉ phí hội nghị, khánh tiết, hoa hồng môi giới: phần chỉ tiền ăn ca, trang phục cho người lao động. Luật thuế đã loại khỏi thu nhập chịu thuế các khoản lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục có gốc tiền tệ do đánh giá nhằm tính đúng thu nhập thực tế của công ty. Ngoài ra, việc loại trừ các khoản thu nhập khác như lãi trái phiếu, lãi góp vốn liên doanh nhằm tránh thu thuế hai lần. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH 12 có những bước cải tiến đáng kể, đồng thời đã rút ngắn khoảng cách giữa luật thuế và chế độ kế toán hiện hành.
Lợi nhuận kế toán Theo VAS 17, loi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. Nguyên tắc cơ bản hướng dẫn xác định lợi nhuận kế toán Các nguyên tắc kế toán cơ bản hướng dẫn xác định kết quả kinh doanh gỗ: co sé kế toán dồn tích, nguyên tắc ghỉ nhận doanh thu, nguyên tắc phù hợp. Các nguyên tắc này ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận kế toán thông qua việc xác định doanh thu kế toán và chỉ phí kế toán để tính được lợi nhuận kế toán. Doanh thu kế toán Theo VAS 01, doanh thu và thu nhập khác được ghỉ nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi thu được lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan tới sự gia tăng về tài sản hoặc giảm bớt nợ phải trả và giá trị gia tăng đó phải xác định được một cách đáng tin cậy.
Mọi nghiệp vụ kinh tế liên quan đến doanh thu phải được ghi số kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chỉ tiền hoặc tương đương tiền. Điều kiện ghỉ nhận doanh thu (VAS 17, đoạn 10, Bộ tài chính, 2001) cho thấy ghi nhận doanh thu không phụ thuộc vào hóa đơn bán hàng đã lập hay chưa. Chỉ phí kế toán Theo VAS 01, chi phi san xuất, kinh doanh và chỉ phí khác được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi các khoản chỉ phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chỉ phí này phải xác định được một cách đáng tin cậy. Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến chỉ phí phải được ghi số kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chỉ tiền hoặc tương đương tiền.
Chỉ phí tương ứng với doanh thu trong kỳ có thể là khoản chỉ tiêu đã phát sinh ở các kỳ trước, các khoản chỉ tiêu trong kỳ hoặc các khoản chỉ tiêu có thé phát sinh ở các kỳ sau. Chi phí bao gồm các chỉ phí tạo ra doanh thu và các chỉ phí không tao ra doanh thu nhưng làm giảm lợi ích kinh tế của doanh nghiệp trong một kỳ (như tiền phạt). Chi phi được ghỉ nhận phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chỉ phí. Dựa vào nguyên tắc này, khi doanh thu được xác định có liên quan đến lợi ích kinh tế thu được trong nhiều kỳ kế toán (chắn hạn doanh thu nhận trước được phân bổ) thì các chỉ phí liên quan được ghỉ nhận trên cơ sở phân bổ hợp lý (tuân theo nguyên tắc phù hợp).
Mặt khác, một khoản chỉ phí được ghỉ nhận ngay trong kỳ khi chỉ phí đó không đem lại lợi ích kinh tế cho các kỳ sau (chăn hạn tiền phạt).