chương 1 nêu khái quát lý thuyết chung về khoản phải thu khách hàng và quản trị khoản phải thu khách hàng. Qua đó giúp nhà quản trị nắm rỏ nội dung về quản trị khoản phải thu khách hàng từ công tác hoạch định khoản phải thu cho tới việc kiểm soát và đánh giá công tác quản trị khoản phải thu khách hàng để dưa ra quyết định quản trị khoản phải thu của doanh nghiệp mình. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị các khoản phải thu tại công ty TNHH MTV cấp nước Đà Nẵng Từ nội dung cơ sở lý thuyết ở chương l, tác giả đi phân tích thực trạng quản trị khoản phải thu khách hàng tại DAWACO. Nắm bắt được tình hình hiện tại của Công ty cũng như chính sách tín dụng khách hàng mà Công ty đang sử dụng để quản trị khoản phải thu khách hàng.
Vì lý do hiện tại Công ty đang kinh doanh nhiều sản phẩm khác nhau nên tác giả chỉ đi phân tích nội dung quản trị khoản phải thu khách hàng dùng nước mà công ty đang cung cấp. Và nội dung của chương này cũng là cơ sở để xây dựng giải pháp ở chương 3 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị khoản phải thu tại công ty TNHH MTV cấp nước Đà Nẵng Dựa trên thực trạng quản trị khoản phải thu khách hàng dùng nước của Công ty, Tác giả đã nắm bắt được căn cứ đề xây dựng giải pháp nhằm hoàn thiện tình hình quản trị khoản phải thu khách hàng của Công ty. Các giải pháp trong chương này được Tác giả nêu lên và kiểm định dựa trên thực tiễn tỉnh hình của Công ty hiện tại. Chuong 1: CO SO LY LUAN VE QUAN TRI KHOAN PHAI THU 1.1, KHAI NIEM, BAN CHAT VA VAI TRO CUA KHOAN PHAI THU 1 Khái lệm khoản phải thu Khoản phải thu là giá trị hàng hoá và dịch vụ mà khách hàng còn nợ và họ cam kết thanh toán cho công ty.
Đây là một loại tài sản của công ty tính dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bắt cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà khách hàng chưa thanh toán cho công ty. Các khoản phải thu thường dưới dạng tín dụng và thường trong thời gian ngắn, từ vài ngày cho đến | nim. Các khoản phải thu được ghi nhận như là tài sản của công ty vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai. Các khoản phải thu đài hạn (chỉ đáo hạn sau một khoản thời gian tương đối dài) sẽ được ghi nhận là tài sản dài hạn trên bảng cân đối kế toán.
Hầu hết các khoản phải thu ngắn hạn được coi như là một phần của tải sản vãng lai của công ty. Các khoản phải thu được kế toán của công ty ghi lại và phản ánh trên bang cân đối kế toán, bao gồm tất cả các khoản nợ công ty chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán. Và khoản phải thu có liên quan đến các đối tác có quan hệ kinh tế đối với các doanh nghiệp. Bản chất của khoản phải thu Khoản phải thu không phải được hình thành một cách tự phát, nó là kết quả của việc công ty tiến hành một cách chủ động bằng chính sách bán chịu cho khách hàng.
Khoản phải thu của doanh nghiệp phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố như tình hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, và chính sách bán chịu của doanh nghiệp. Trong các yếu tố này, chính sách bán chịu ảnh hưởng mạnh nhất đến khoản phải thu và sự kiểm soát của giám đốc tài chính. Nhờ bán chịu doanh nghiệp có thể tăng khả năng cạnh tranh, thu hút thêm được khách hàng, mở rộng thị trường, tăng được khối lượng hàng bán ra, từ đó sẽ tăng được doanh. thu bán hàng và tăng lợi nhuận cho doanh nghỉ.
Do vậy hình thức này có thể thu hút thêm các đơn hàng từ khách hàng đến với công ty và doanh nghiệp. cần có chính sách tín dụng phù hợp'. Vai trò của khoản phải thu 1. Đối với Công ty Các doanh nghiệp muốn đứng vững và cạnh tranh tốt trên thị trường thì phải có gắng tận dụng triệt để mọi khả năng, nguồn lực cũng như các công cụ mà doanh nghiệp hiện có của mình.
Trong đó chính sách tín dụng là một trong những vũ khí sắt bén nhằm giúp choo công ty đạt được mục tiêu về doanh Vì khi công ty nới lỏng các biến số của bán tín dụng thì ngoài việc tăng số lượng hàng bán ra còn tiết kiệm được chỉ phí thu hồi nợ khó đòi và rủi ro mắt mát. Tín dụng thương mại có thể làm cho công ty ngày cảng có uy tín, tạo danh tiếng trên thị trường và làm cho khách hàng mua và sử dụng sản phẩm. của mình thường xuyên hơn. Mặt khác, khi nới lỏng chính sách tín dụng sẽ giúp cho Công ty giảm được lượng hàng tồn kho, đồng thời giảm các chỉ phí liên quan đến tồn kho.
Về căn bản tín dụng thương mại đó là sự tin tưởng của người cấp tín dụng và người hưởng tín dụng nên nó sẽ làm cho khách hàng. hưởng được một khoản tín dụng với các thủ tục tương đối đơn giản. Đây là thủ tục cấp tín dụng chứ không phải thủ tục vay nợ do đó sẽ kích thích nhu cầu mua hàng và mở rộng quy mô kinh doanh. Ngoài ra nó còn giúp cho.
khách hàng gắn bó với Công ty hơn và duy trì được mối quan hệ thường. xuyên với khách hàng truyền thống và tìm kiếm thêm những khách hàng mới. Đoàn Gia Dũng - Bài giảng Quản trị chính năm 2010 — Đại học Đà Nẵng Bên cạnh đó khi nới lỏng chính sách tín dụng có thể làm cho khoản phải thu tăng lên, từ đó làm tăng vốn đầu tư nên dễ dẫn đến việc mắt đi cơ hội kiếm lời từ các hoạt động khác. Mặt khác khi mở rộng các điều kiện tín dụng sẽ làm tăng khả năng mắt mát, rủi ro không đòi được nợ.
Đồng thời phải tốn chỉ phí quản lý nợ của khách hàng cũng như các chỉ phí khác liên quan. Đối với khách hàng Khách hàng là người được hưởng tín dụng cũng là người mua hàng sẽ được một phần lợi nhuận trích ra của công ty đó là các khoản chiết khấu hay thời hạn trả được kéo dài thêm hoặc khi khách hàng thiều vốn kinh doanh hay muốn đầu tư vốn vào cơ hội khác thì tín dụng thương mại là biện pháp tài trợ vốn hữu hiệu. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng khi nhận chính sách tín dụng từ người bán khách hàng cũng sẽ phải trả một phần chỉ phí trong việc giá hàng mua sẽ cao hơn so với khi khách hàng mua trả ngay. NOI DUNG QUAN TRI KHOAN PHAI THU KHACH HANG Khoản phải thu có mối quan hệ với doanh thu bán hàng và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trong môi trường kinh doanh ngày càng gay gắt hiện nay, nếu không bán chịu hàng hóa thì doanh nghiệp sẽ mắt đi cơ hội bán hàng và gia tăng lợi nhuận; nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều thì chỉ phí cho khoản phải thu tăng có nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đỏi, do đó rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng. Quản trị khoản phải thu nhằm quản lý các khoản phải thu đúng hạn, tránh được nguy cơ phát sinh nợ khó đòi làm ảnh hưởng đến công ty. Quản trị khoản phải thu gắn liền với việc xây dựng và thực thi chính sách bán tín dụng nhằm đạt được mục tiêu công ty trong từng thời kỳ. Vi vay ma quản trị khoản phải thu bao gồm: thiết lập chính sách tín dụng, lập kế hoạch ( Hoạch định chính sách tín dung ), tổ chức thực hiện, tổ chức quản lý, giám sát và kiểm soát toàn diện khoản bán chịu.
Kết hợp khái niệm khoản phải thu và mối quan hệ của khoản phải thu với chính sách bán tín dụng, quản trị khoản phải thu bao gồm những bước sau: 1. Hoạch định quản trị khoản phải thu khách hàng, Hoạch định quản trị khoản phải thu là tiến trình các nhà quản trị xác định và lựa chọn mục tiêu của công tác quản trị khoản phải thu và vạch ra những hành động cần thiết nhằm đạt được mục tiêu. Như vậy việc hoạch định quản trị khoản phải thu thực chát là việc hoạch định chính sách bán tín dụng. "Chính sách tín dụng là yếu tố quyết định trong quản trị khoản phải thu của công ty.
Quy định về lên khách hàng đủ tiêu chuẩn được nợ, hạn mức nợ sau khi đã kiểm tra các thang bậc đánh giá cho từng tiêu chi cu t khả năng thanh toán, doanh thu dự kiến, lịch sử thanh toán, cơ sở vật chát của từng khách hang"’. Chính sách tín dụng bao gồm bón biến số: liêu chuân tín dụng, thời hạn tín dụng, chiết khấu nhờ trả sớm, chính sách thu hồi nợ. Sơ đồ sau có thể giúp chúng ta hình dung tiến trình hoạch định chính sách bán tín dụng của công ty. 2 Dang tai tai wedsite http://www.
Tiến trình hoạch định chính sách bán tín dụng ° Mục tiêu quản trị Khả năng tài chính khoản phải thu ty | Dic diém san phim Các phương án bán tín dụng Qua sơ đồ cho thấy đẻ hình thành chính sách bán tín dụng công ty cần xuất phát từ mục tiêu tài chính cụ thể hoá việc gia tăng giá trị tai san trong từng thời kỳ. Kế đến xây dựng mục tiêu bán tín dụng, trong từng thời kỳ bán tín dụng có thể quan tâm đến các mục tiêu sau: Tăng doanh số, giảm các chỉ phí tồn kho, hoặc tăng tốc độc chuyển hoá thành tiền của các khoản đầu tư vào khoản phải thu. Các phân tích về môi trường là những cơ sở hết sức cần thiết khi đề ra các chính sách bán tín dụng. Những hiểu biết nhu cầu khách hàng như mục.
tiêu và chu kỳ kinh doanh; uy tín trong thanh toán, số năm có quan hệ với công ty; khả năng tài chính; cơ cầu hàng hoá. Bên cạnh đó, việc nắm rỏ khả năng tài chính và đặc điểm sản phẩm của công ty là điều mà các nhà quản trị phải quan tâm để đưa ra chính sách bán tín dụng phù hợp. Xây dựng tiêu chuẩn tín dụng 3 TS, Đoàn Gia Dũng - Bài giảng Quản trị tài chính năm 2010 ~ Đại học Đà Nẵng 10 Tiêu chuẩn bán chịu là tiêu chuẩn ¡ thiểu về mặt uy tín tín dụng của khách hàng để được doanh nghiệp chấp nhận bán chịu hàng hóa và dịch vụ. Tiêu chuẩn bán chịu là một bộ phận cầu thành chính sách bán chịu của doanh nghiệp và mỗi doanh nghiệp đều thiết lập tiêu chuẩn bán chịu của mình chính thức hoặc không chính thức.