phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Thương 1: TDNH với sự phát triển DNVVN trong nền kinh tế thị trường. Thương TT: Hoạt động TDNH đối với các DNVVN ở Việt Nam thời gian qua. trương TH: Một số giải pháp giúp các DNVVN tiếp cận vốn TDNH. CHUONG | TÍN DỤNG NGAN HANG VỚI SỰ PHÁT TRIEN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.
DOANH NGHIỆP VUA VÀ NHỎ TRONG NỀN KTTT 1.1 Khái niệm về DNVVN Cho tới nay, có khá nhiều khái niệm về DNVVN, nhưng vẫn chưa có một khái niệm thống nhất. Xem xét nền kinh tế của các quốc gia chúng ta thấy có các quan niệm và khái niệm khác nhau về DNVVN. Các khái niệm về DNVVN thường phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của mỗi nước, đồng thời ngay trong một nước khái niệm này cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Tuy có sự khác nhau, nhưng nhìn chung để có một khái niệm về DNVVN người ta thường tiếp cận và luận giải ở các khía cạnh về vốn, lao động và doanh thu.
Có nước chỉ dùng một, hai hoặc cả ba yếu tố đó để khái niệm DNVVN. Ngoài ra, một số nước còn tuỳ từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà quy định các tiêu chí khác nhau. Sự khác nhau về tiêu chí xác định DNVVN của các nước là hoàn toàn khách quan, do mỗi nước có điều kiện, trình độ phát triển kinh tế cũng như chính sách, biện pháp hỗ trợ và định hướng phát triển DNVVN của riêng mình, phù hợp với chiến lược và mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia (xem bang 1). Bảng 1: TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH DNVVN Ở MOT SỐ QUỐC GIA | Nước Số lao động (người) Tổng vốn hoặc giá Doanh thu | trị tài sản straylia <500 canada < 20 triệu CAD Tổng công <100 trong công nghiệp <50 trong dịch vụ ndonêxia <100 < 0,6 tỷ Rupi <2 ty Rupi | Vhát < 50 trong bán lẻ < 10 triệu Yên “| < 100 trong bán buôn < 30 triệu Yên <300 ngành khác < 100 triệu Yên *hilippin <200 < 100 triệu Peso ——— 4exico <250 <7 triệu USD Iỉngapore <100 < 499 triệu SSD 1'yamar <100 "hái lan RE 100 20 triệu Bath Ay < 500 |làn quốc < 300 trong chế tạo < 200 trong XD | < 20 trong dich vu Nguồn: Tổng hợp từ các tài liệu tham khảo [11; 13; 28;36; 45; 47;48;50].
Ghi chú: Các ô trống tức là không có quy định. Tiêu chí xác định DNVVN ở Việt Nam. Ở nước ta, tiêu chí phân loại DNVVN mới được quy định tạm thời tại công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 của Thủ tướng chính phủ. Theo quy định tại công văn này, tiêu chí xác định DNVVN là vốn va lao động.
Cụ thể, DNVVN là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người. Chính phủ quy định, khi xác định DNVVN không nhất thiết phải áp dụng cả hai tiêu thức này mà cho phép các Bộ, ngành địa phương có thể căn cứ vào tình hình cụ thể mà áp dụng cả hai hoặc một trong hai tiêu thức để xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển các DNVVN. Thực tế, trước khi có công văn trên, một số tổ chức trong nước và quốc tế như NHCT Việt Nam, Quỹ hỗ trợ DNVVN của chương trình Việt Nam - EU, dự án VIE/US/95/004 do UNIDO tài trợ đã có chương trình hỗ trợ cho DNVVN và đã đưa ra những tiêu chí riêng tuỳ theo mục đích của chương trình để xác định DNVVN như: - NHCT Việt Nam quy định: DNVVN là doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ, vốn lưu động dưới 8 tỷ, số lao động thường xuyên dưới 500 người và doanh thu dưới 20 ty đồng/năm. - Thường trực Ban chỉ đạo trung ương đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ xác định: doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ là các doanh nghiệp có lao động dưới 100 người và vốn dưới 500 triệu đồng [35].
- Bộ Kế hoạch và đầu tư hướng dẫn cách xác định các DNVVN tại thông tư 03/BKH - QLKT ngày 27/2/ 1996: doanh nghiệp có quy mô lớn là doanh nghiệp có vốn 50 tỷ đồng, lao động trên 1.500 người, doanh thu trên 80 tỷ đồng và nộp ngân sách trên 10 tỷ đồng; Các doanh nghiệp có tiêu chí dưới mức quy định này coi như doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. - Thành phố Hồ Chí Minh đã coi doanh nghiệp vừa là những doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, lao động trên 100 người, doanh thu trên 10 tỷ đồng. Do hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam còn chưa hoàn thiện, nhiều vấn dé chưa được quy định rõ ràng, nhiều chủ thể có hoạt động nhưng không đăng ký nên chưa được coi là doanh nghiệp (hộ sản xuất nông nghiệp). Thông thường trong văn bản quy phạm, pháp luật, thuật ngữ "doanh nghiệp" dùng để chỉ các chủ thể kinh tế có đăng ký kinh doanh với 6 cơ quan nhà nước theo quy định.
Tuy nhiên, chúng ta có thể định nghĩa DNVVNở Việt Nam như sau: DNVVN ở Việt Nam là các cơ sở sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh với các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn và!hoặc lao động phù hợp với các tiêu chí theo quy định của Chính phủ. Theo định nghĩa này, khu vực DNVVN ở Việt Nam bao gồm: các DNNN có quy mô vừa và nhỏ đăng ký theo luật DNNN; các công ty CP, công ty TNHH, DNTN có quy mô vừa và nhỏ đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các HTX có quy mô vừa và nhỏ đăng ký hoạt động theo Luật HTX; các cá nhân và nhóm sản xuất kinh doanh dưới vốn pháp định, đăng ký theo Nghị định 66/HDBT (nay là Chính phủ). Ở đây cũng cần thống nhất quan điểm phân loại đối với các doanh nghiệp là đơn vị thành viên của các tổng công ty Nhà nước. Vì các tổng công ty Nhà nước có quy mô lớn, cho nên tuy quy mô của đơn vị thành viên thuộc loại vừa và nhỏ nhưng không thể coi doanh nghiệp thành viên đó là DNVVN.
Tương tự, một công ty cổ phần thuộc sở hữu của một công ty hoặc tổng công ty lớn cũng không được coi là DNVVN.2 Vai trò của DNVVN Kinh nghiệm thực tế ở một số nước có nền kinh tế phát triển cho thấy, tuy mức độ đánh giá có khác nhau song các nước đều xác định khu vực DNVVN có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội của quốc gia. DNVVN chiếm 98% tổng số doanh nghiệp, đóng góp gần một nửa GDP và là nguồn quan trọng về tạo công ăn việc làm ở Mỹ. Theo số liệu của cơ quan quản lý DNVVN của Mỹ thi” trong 2 triệu chỗ làm việc mới được tao ra trong năm 1995 có tới 81,7% là của DNVVN” và “kinh doanh nhỏ phát triển ở Mỹ đã tạo ra 35 triệu chô làm việc từ 1975 đến 1985, trong khi nên kinh doanh lớn truyền thống và các tổ chức nhà nước trong những năm đó đã có 6 triệu người mất việc lam” [44]. Do vậy, ở Mỹ người ta đã coi các DNVVN như là phương tiện có hiệu quả để giải quyết nạn thất nghiệp, là nguồn cung cấp việc làm chủ yếu của xã hội.
Ngoài ra, các DNVVN còn tạo ra sự năng động của nền kinh tế, góp phần vào sự đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp, tạo mạng lưới phục vụ và tạo sức sống cho các tập đoàn kinh tế lớn bằng chính các sản phẩm và dịch vụ mà nó cung cấp. Tại Nhật bản, DNVVN cũng chiếm một tỷ trọng khá lớn. Theo thống kê năm 1991, DNVVN chiếm 99,1% số doanh nghiệp, thu hút 79,2% lực lượng lao động, tạo ra 51,8% GDP và khoảng 30% giá trị xuất khẩu. Đánh giá về DNVVN ở Nhật Bản người ta cho rằng, đây chính là cái nôi hình thành các doanh nghiệp lớn và luôn tạo ra sự mới mẻ của nền kinh tế.
Các nhà kinh tế học cũng cho rằng, nên kinh tế Nhật được duy trì ổn định chính là nhờ vào số đông các DNVVN chứ không phải là dựa vào các doanh nghiệp lớn [48]. Tại Đài Loan, tất cả các nhà kinh tế đều có nhận xét chung: sự tồn tại của các DNVVN ở Đài Loan là một đặc điểm nổi bật của nên kinh tế. Theo số liệu năm 1993, Đài Loan có hơn 700 ngàn DNVVN, chiếm 98% số doanh nghiệp, 60% lao động và tạo ra 70% giá trị sản phẩm xuất khẩu của ngành công nghiệp chế tạo. Sự tồn tại này vừa có tính lịch sử, vừa có tính tất yếu kinh tế.
vì sau chiến tranh nền kinh tế Dai Loan còn rất hạn chế về vốn và kỹ thuật [37]. Ở Việt Nam, qua 15 năm đổi mới, nên kinh tế đã thu được những thành tựu đáng khích lệ, trong đó phải kể đến sự đóng góp đáng kể của DNVVN trong tổng sản phẩm xã hội, tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận khá lớn lao động, đồng thời góp phần làm cho nền kinh tế năng động hơn. Vai trò của DNVVN đối với nên kinh tế được khẳng định qua các mặt sau: * Góp phần tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập quốc dan. DNVVN có đóng góp to lớn vào kết quả hoạt động kinh tế.
Năm 1992 DNVVN có khối lượng hàng hoá luân chuyển là 2.978 triệu tấn/km, đã vận chuyển 32,2 triệu tấn hàng hoá, chiếm 56% lượng hàng hoá luân chuyển của các địa phương và 64% lượng hàng hoá vận chuyển. Riêng trong sản xuất công nghiệp, năm 1993 khu vực ngoài quốc doanh tao ra 5.315 tỷ đồng, chiếm 25% giá trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp và 54% giá trị công nghiệp địa phương, tăng 11% so với nam 1992 và tăng 63% so với năm 1990 (tính theo giá trị cố định năm 1989), Cũng trong năm 1993, tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ đạt 29.000 tỷ đồng, bằng 78% tổng mức bán lẻ toàn xã hội [26]. Theo đánh giá của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, năm 1995 DNVVN của cả nước tạo ra khoảng 24% GDP, chiếm 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp và chiếm từ 25-26% lực lượng lao động cả nước [16]. Với số lượng lớn các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, thu hút phần lớn lao động làm việc trong các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ.các DNVVN đã và đang tạo ra một phần lớn sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, đóng góp nhiều cho tích luỹ của ngân sách.