CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE QUAN LY THUE KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUOC DOANH 1. NHUNG VAN DE CO BAN VE THUE VA KHU VUC KINH TE NGOAI QUOC DOANH 1. Khái quát chung về thuế 1. Khái niệm Đến nay, tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định.
nghĩa về thuế phải nêu bật được các khia canh sau day: ~ Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả tực tếp; ~ Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước; ~ Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định. 'Từ việc phân tích những quan niệm về thuế của thế giới và của nước ta nêu trên, chúng ta có thê đưa a một định nghĩa tông quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tô chức, cá nhân cho. Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội. [15] Ngoài khoản thu về thuế, Ngân sích Nhà nước còn có những khoản.
thu vé phi va lệ phí. Đây là những khoản thu mà một tổ chức hay cá nhân phải trả khi được một cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước uỷ. quyền cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng. Đặc điểm của thuế ~ Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước: Đặc đểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế.
Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp -Đạo luật gốc của một quốc gia. Việc ban hành, sửa đổi, bỗ sung, hay bãi bỏ bắt kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ. quan duy nhất có thẩm quyền,đó là Quốc Hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao. Mặt khác tính quyển lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước.
không thể thực hiện thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do các co quan quyền lực Nhà nước ban hành. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tắt cả các hình thức động viên tài chính cho Ngân sách 'Nhà nước khác ~ Thuế l một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước: Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế. nước thực hiện phương thức phân phối và phân phối lại tông sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân dưới hình thức thuế, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cắp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho. người nộp thuế.
Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối với những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật ~ Thuế là hình thức chuyên giao thu nhập không mang tính chất hoàn. trả trực tiếp. Còn phí, lệ phí mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người thụ hưởng dịch vụ này. Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thẻ hiện.
trên các khía cạnh: Thứ nhất, Sự chuyên giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho. Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những địch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế: không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước. Thứ hai, Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế.
Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch vụ công công mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phân giá trị mà người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết trơng đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí và giá cả. Vai trò cơ bản của thuế * Huy động tập trưng nguôn tài chính ~ Thuế là một công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn. Đối tượng nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế và.
phát sinh nguồn thu nhập nộp thuế ~ Phương thức huy động của thuế là sử dụng phương pháp chuyển. giao thu nhập bắt buộc. Chính vì vậy, nguồn thu từ thuế được đảm bảo tập trung một cách nhanh chóng, thường xuyên và ổn định. ~ Thông qua thu thuế một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội và thu.
nhập quốc dân trong nước ta ra đã tập trung vào Nhà nước để đảm bảo như: cầu chỉ tiêu công cộng và thực hiện các biện pháp kih tế - xã hội. ~ Tính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ khác còn thể hiện ở chỗ: thuế kết hợp hài hoà giữa phương pháp cưỡng bức và kích thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các đối tượng nộp thuế tới chất lượng sản xuất và hiệu quả kinh doanh. Mặc dù, thuế được coi là công cụ chủ yếu để huy động tập trung nguồn lực thi chí cho Nhà nước, nhưng không có nghĩa là Nhà nước có thể quy định mức động viên thuế cao đề tăng thu về thuế bằng mọi giá mà mức. độ động viên thuế chỉ có một giới hạn nhất định.
Nếu Nhà nước dùng quyền lực để tập trung quá mức phần thu nhập từ tổng sản phẩm quốc nội (GDP). vào cho Ngân sách Nhà nước thì phần GDP còn lại dành cho các doanh nghiệp và cá nhân sẽ giảm xuống Đến một lúc nào đó, nếu họ nhận thấy rằng. công sức bỏ vào kinh doanh, vào làm việc được bù đắp không thoả đáng thi họ sẽ nghỉ không kinh doanh hoặc chuyển sang kinh doanh ngằm và tim moi cách để trốn thuế. Như vậy, có thể thấy tằng, khả năng thu thuế tối đa cho.
Ngân sách Nhà nước là khoản thu nhập mà các doanh nghiệp và người dân sẵn sàng gành ra đề trả thuế mà không làm thay đổi mọi hoạt động vốn có. Đứng trên giác độ nền kinh tế quốc dân, khả năng thu thuế của một quốc gia được phản ánh thông qua tỷ Ệ phần trăm của GDP được động viên vào Ngân sách Nhà nước. Nếu gọi Tm là tổng số thuế tốiđa có thể thu được vào Ngân sách Nhà nước thì khả năng thu thuế là Tm/GDP. Khả năng thu thuế là khái niệm lý thuyết được dùng để i giành giới phân chia hợp by thu nhập xã hội giữa các khu vực công cộng và khu vực tư nhân.
Nếu Nhà nước động viên thuế chưa đạt tới giới hạn khả năng thu thuế. thì nguồn lực xã hội tập trung vào tay Nhà nước chưa đầy đủ. Nếu Nhà nước động viên vượt quá giới hạn khả năng thu thuế thì sẽ làm gầm khả năng tích. luỹ để tái sản xuất mở rộng tại doanh nghiệp, do đó làm giảm số thuế thu.
được trong tương hài Trong thực tẾ công tác quản lý thuế, tổng số thuế thu được hàng năm. có thể lại khác xa so với tổng số thuế có khả năng thu được. Để phản ánh tình. trạng này, các nhà kinh tế dùng khái niệm nỗ lực thu thuế (tax effbrt.
Nếu tổng số thuế thực tế thu được là Tt, thì: Nỗ lực thu thuế = (TUGDP) : (Tm/GDP) = TưTm Nếu tỷ lệ trên nhỏ hon 1, Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp để tăng số thu về thuế mà không làm tổn hại đến quan hệ phân phối thu nhập. giữa Nhà nước với doanh nghiệp và cá nhân, vì tiềm năng thu thuế hiện đang. được khai thác ở mức độ thấp so với mức chịu đựng của nẻn kinh tế. Nhưng khi tỷ số trên lớn hơn 1thì hệ thống thuế hiện tại đã huy động vượt quá khả năng chịu đựng của nền kinh tế.
Cần phải hiểu rằng: Nỗ lực thu thuế cao. không nhất thiết đồng nhất với xuất hiện tình trạng bội thu Ngân sách Nhà nước và càng không thể khẳng định rằng nên kinh tế đang tăng trưởng thuận. lợi hoặc Nhà nước đang vận hành chính sich kinh tế đúng đắn. [15] * Điều tiết vĩ mô nên kinh tế ~ Đều chỉnh chu kỳ nễn kinh tế: là một trong những nội dung quan trọng của quá trình sử dụng công cụ thuế điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường thì sự phát triển theo chu kỳ là điều không thẻ tránh khỏi. Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ồn định, Nhà nước đã sr dụng thuế để. điều chỉnh quá trình đó. Trong những năm khủng hoảng và suy thoái kinh tế, Nha nước có thể hạ thấp mức thuế, tạo ma những đều kiện ưu đãi về thuế thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăng đầu tư và mở rộng sức sản xuất.
Điều đó có thể đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng nhanh. Ngược lại, trong thời kỳ phát triển quá mức, có nguy cơ dẫn đến mắt cân đối, bằng cách tăng thuế, thu hẹp đầu tr, Nhà nước có thể giữ vững nhịp. độ tăng trưởng theo mục tiêu đặt ra. ~ Thuế còn góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý theo yêu cầu của.
từng gai đoạn phát triền nền kinh tế. Bằng việc ban hành hệ thống thuế, Nhà. nước sẽ quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hoặc thấp vào các ngành nghề, các mặt hàng cụ thể. Thông qua đó Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát trên của những ngành kinh tế quan trọng hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa chúng, đảm bảo sự cân đối giữa các ngành.
nghề trong nền kinh tế. ~ Điều chỉnh tích luỹ tư bản: là một nội dung quan trọng của điều chỉnh thuế. Một mặt, sản xuất chiếm hữu và tr bản hoálợi nhuận luôn luôn là 10 mục đích cơ bản của hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, Nhà. nước cần sử dụng thuế dé điều chỉnh sự tích luỹ đó phủ hợp lợi ích kinh tế của các chủ thê kinh tế và lợi ích xã hội.