Mở đầu với tiểu thuyết mang âm hưởng sử thi hào sảng Nắng đồng bằng(1978), Chu Lai quả đã đến với khuynh hướng “phi sử thi” bằng những tiểu thuyết:Vòng tròn bội bạc(1987), Ăn mày dĩ vãng(1991), Phố(1993), Ba lần và một lần(1999), Cuộc đời dài lắm(2001). Nhưng sau hàng loạt những tiểu thuyết đậm chất thế sự ấy lại đột ngột xuất hiện những tiểu thuyết đậm chất sử thi đó là Khúc bi tráng cuối cùng(2004) và Mưa đỏ(2016). Ra đời trong bối cảnh văn học bị lấn lướt bởi điện ảnh và công nghệ thông tin, trong bối cảnh tiểu thuyết sử thi đã “quá thì”, trong bối cảnh mà người đọc cũng như nhiều nhà văn khác đang quan tâm đến những vấn đề “nóng”, những bức xúc của xã hội hiện đại. Nhưng hai tiểu thuyết Khúc bi tráng cuối cùng và Mưa đỏ viết về một đề tài xưa cũ(chiến tranh và người lính) vẫn thu hút được sự yêu thích của đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước.
Về mặt chuyên môn, chúng lại khẳng định tên tuổi của Chu Lai bằng những giải thưởng(Mưa đỏ được Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2016). Điều đó chứng tỏ bút lực sung mãn, sự lôi cuốn trong thi pháp tiểu thuyết của Chu Lai và góp phần làm nên Chu Lai với tư cách một nhà tiểu thuyết đã làm cho những đề tài cũ, thể loại cũ trở nên tươi mới. Đồng thời nó cũng khẳng định sức sống của tiểu thuyết sử thi trong xã hội hiện đại với những diện mạo mới. Nói như vậy chúng tôi không có ý khẳng định Chu Lai đã khôi phục hoàn toàn thể loại tiểu thuyết sử thi theo đúng những đặc trưng của nó, mà muốn nêu lên một vấn đề là sự giao thoa giữa chất sử thi và chất tiểu thuyết – điều tạo nên dáng dấp vừa quen, vừa mới mẻ trong tác phẩm của ông.
Khảo sát hai tiểu thuyết Khúc bi tráng cuối cùng và Mưa đỏ, chúng tôi nhận thấy rất rõ tính chất giao thoa đó ở cả nội dung tư tưởng lẫn thi pháp nghệ thuật. Hai tiểu thuyết Khúc bi tráng cuối cùng và Mưa đỏ là những tác phẩm đậm chất sử thi xét về các phương diện thi pháp thể loại. Về nội dung tư tưởng, hai tác phẩm đều là những bản hùng ca ca ngợi sức mạnh, trí tuệ và vẻ đẹp tâm hồn của dân tộc Việt Nam, c 16 nhắc nhở mỗi con người hôm nay hãy nhớ rằng để có cuộc sống tự do, độc lập các thế hệ cha, anh đã đổi bằng xương máu, bằng nước mắt. Về mặt nghệ thuật tự sự, hai tiểu thuyết đều lấy cảm hứng từ đề tài chiến tranh cách mạng và người lính – qua những sự kiện lịch sử trọng đại của cuộc kháng chiến chống Mĩ để phân tích khám phá về tâm hồn, tính cách và số phận con người.
Khúc bi tráng cuối cùng lấy sự kiện là chiến dịch Tây Nguyên tháng 3 năm 1975 – một sự kiện có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi mùa xuân 1975. Mưa đỏ lấy bối cảnh là cuộc chiến đấu bảo vệ thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm năm 1972 – sự kiện cũng có tính quyết định đến thắng lợi trên mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Pari của ta buộc Mỹ phải rút quân về nước. Xung đột trong hai tác phẩm là xung đột cộng đồng, dân tộc giữa ta và kẻ thù Mĩ, Ngụy; Nhân vật chính diện là những anh hùng cá nhân và tập thể anh hùng, họ là những người chiến sĩ dũng cảm, sẵn sàng xả thân vì mục tiêu chung của dân tộc, họ là kết tinh cho vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của người Việt Nam; Không gian cũng mang tính sử thi kì vĩ, rộng lớn, đó là không gian chiến trận bi hùng, không gian rừng núi kì vĩ, lãng mạn; Lời văn dành cho người anh hùng đa số là lời văn sử thi, đó là những lời lẽ mang tính chất thành kính, ngợi ca. Song song với chất sử thi khá đậm nét ấy, người đọc lại bắt gặp những dấu hiệu của chất tiểu thuyết rất rõ ràng như: Bên cạnh xung đột cộng đồng, tác giả còn thể hiện xung đột cá nhân trong một nhóm người, trong một con người.
Người chiến sĩ phải đấu tranh nội tâm với những dằn vặt về tâm hồn, giữa lòng dũng cảm và sự hèn nhát. Xung đột không chỉ đơn thuần là địch – ta mà còn là xung đột giữa chúng ta, giữa những người cùng chiến tuyến. Nhân vật anh hùng cũng không được lí tưởng hóa một cách cao độ với vẻ đẹp lí tưởng. Người anh hùng cũng là những con người rất gần gũi, rất đời thường với tất cả những cái tốt – xấu của con người; Bên cạnh không gian thời gian sử thi là không gian đồ vật, không gian hẹp của tiểu thuyết.
Đó là không gian trong những căn hầm chiến đấu và sinh hoạt của bộ đội, không gian ngột ngạt trong các quán bar, căn cứ chỉ huy của kẻ thù. Bên cạnh lời văn sử thi là những lời văn đậm chất văn xuôi của tiểu thuyết. Đó là những lời văn miêu tả trần trụi sự thực của chiến tranh – khốc liệt và hi sinh ghê gớm. Bên cạnh giọng điệu ngợi ca còn là giọng mỉa mai, giọng đau đớn.
Thêm nữa, hai tác phẩm Khúc bi tráng cuối cùng và Mưa đỏ còn thể hiện những sáng tạo đáng ghi nhận của Chu Lai trong nghệ thuật xây dựng và thể hiện nội tâm nhân c 17 vật, kết cấu cốt truyện cũng có nhiều sáng tạo theo kết cấu của kịch bản điện ảnh. điều đó cũng góp phần làm cho tiểu thuyết của ông vẫn có chỗ đứng trong lòng bạn đọc. Với những lí do như trên, chúng tôi mạnh dạn chọn hai tiểu thuyết Khúc bi tráng cuối cùng và Mưa đỏ để khảo sát để làm sáng tỏ sự kế thừa và cách tân của Chu Lai trong thể loại tiểu thuyết sử thi Việt Nam hiện đại cũng như những đóng góp của nhà văn cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Tiểu thuyết của Chu Lai trong bộ phận tiểu thuyết Việt Nam hiện đại từ 1975 đến nay 1.
Khái quát về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại từ 1975 đến nay Từ sau 1975 nhất là sau Đại hội lần thứ VI của đảng cộng sản Việt Nam, một công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đã được triển khai mạnh mẽ trong đó có Văn học. Với tinh thần “cởi trói” cho văn nghệ và sự vận động tự thân của mình để hòa nhịp với văn học thế giới, Văn học Việt Nam đã có những bước chuyển mình hết sức quan trọng theo xu hướng dân chủ hóa. Tiểu thuyết Việt Nam thời kì này cũng có những thay đổi lớn. Trước hết là sự thay đổi quan niệm về nhà văn, nhiều nhà văn lúc này ý thức rất rõ rằng mình không chỉ là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa mà còn là nghệ sĩ phụng sự nghệ thuật.
Yếu tố nghệ sĩ được đề cao trong quan niệm của hầu hết nhà văn. Những thay đổi trong quan niệm về văn chương cũng đã xuất hiện – nhất là quan niệm về chức năng của văn học. Nhiều nhà văn cho rằng văn chương không chỉ là vũ khí chính trị, văn chương còn là sự tự nhận thức của con người, văn chương có chức năng hướng thiện, chức năng dự báo, chức năng giải trí… Chẳng hạn, Nguyễn Huy Thiệp cho rằng “Văn chương giúp cho con người nhận thức về mình, nhận thức sự hiểm nguy trong đường đời”[70,tr. Còn Trần Huy Quang thì khẳng định “Tôi coi văn chương để giải trí.
Không có cô đầu, không đánh bạc, nhảy disco thì đọc tiểu thuyết, thế thôi. Viết cũng vậy, đều là trò chơi của người ta cả…”[59,tr. Và còn rất nhiều ý kiến khác nữa, điều đó cho thấy một diện mạo mới rất đáng mừng của văn học nước nhà. Tiểu thuyết cũng được quan niệm và nhận thức khác trước “Nhiều nhà văn thừa nhận: “Tiểu thuyết của ta yếu về hai phương diện: cũ về thi pháp và thiếu cái mới về chất liệu”.
Để khắc phục nhược điểm này, bên cạnh việc “tìm tòi một số thủ pháp mới” c 18 nhà tiểu thuyết cần “sáng tạo quan niệm”, bởi khi “đổi mới cách nhìn thì sẽ có vô số chất liệu, chất liệu mới không phải là cái li kì, xa lạ””[59,tr. Với những thay đổi đó, tiểu thuyết đã dần chuyển mình từ loại hình tiểu thuyết sử thi sang loại hình tiểu thuyết phi sử thi. Trước hết phải nói đến sự đa dạng về đề tài trong tiểu thuyết. Nếu giai đoạn 1945 – 1975 hầu hết tiểu thuyết đều tập trung vào hai đề tài lớn là xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà thì tiểu thuyết sau 1975 đã có sự mở rộng đề tài.
Ngoài đề tài chiến tranh, tiểu thuyết đã đề cập tới nhiều đề tài khác như: đề tài nông thôn, đề tài đô thị, đề tài lịch sử. Tiểu thuyết cũng thể hiện rõ sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực và con người. Hiện thực trong tiểu thuyết thời kì này không chỉ là những sự kiện, những vấn đề lịch sử - xã hội lớn lao, các nhà văn còn đặc biệt chú trọng đến những cuộc đời riêng tư, những vấn đề đa dạng phức tạp của cuộc sống nhân sinh thế sự. Những vấn đề mà trước đây chúng ta “né tránh” thì nay đã được hiện diện nhiều trong tiểu thuyết chẳng hạn như vấn đề tình dục, sự mất mát đau thương trong chiến tranh, vấn đề đồng tính…Con người trong tiểu thuyết cũng được nhìn nhận khác trước, con người không còn được miêu tả giản đơn, một chiều hoặc quá tốt, hoặc quá xấu như tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn trước.
Con người bây giờ được nhìn nhận ở nhiều góc độ: “Không chỉ bó hẹp trong cái nhìn giai cấp, dân tộc, con người đã được nhìn nhận từ góc độ tự nhiên, triết học, nhân bản…Bên cạnh con người đạo lí, con người bản năng cũng được chú ý khai thác. Bên cạnh con người ý thức còn có con người tâm linh, con người vô thức. Bên cạnh con người vẹn toàn, lí tưởng còn có con người khiếm khuyết, bất toàn”[59,tr. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua tiểu thuyết ở một số đề tài.
Nông thôn là một đề tài lớn của văn học Việt Nam, ở những thời kì khác nhau đề tài này cũng được thể hiện khác nhau. Trong tiểu thuyết trước cách mạng, nông thôn hiện lên là một thế giới cổ hủ, lạc hậu, với những mâu thuẫn gay gắt giữa địa chủ và nông dân. Trong tiểu thuyết 1945 – 1975, là xung đột giữa tư hữu và công hữu, là quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tiểu thuyết từ sau 1975, nông thôn đã hiện lên thật đa dạng.