Chương 1: Nguyễn Ngọc Tư - từ cuộc đời đến quan niệm nghệ thuật về con người “Chương 2: Hình tượng nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn "Ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung. “Chương 3: Hình tượng nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn "Ngọc Tư nhìn từ phương diện nghệ thuật thể hiện. CHƯƠNG L NGUYÊN NGỌC TƯ - TỪ CUỘC ĐỜI ĐẾN QUAN NIỆM. NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI.
NHỮNG NHÂN TÔ CHÍNH LÀM NÊN ĐỜI VĂN NGUYÊN NGỌC TƯ. Đời riêng nhiều trải nghiệm Nguyễn Ngọc Từ tên thật là Nguyễn Bé Tư, sinh năm 1976 trong một sia đình nông dân nghèo; mẹ là người phụ nữ một nắng hai sương lam lũ, cha Tà Nguyễn Thái Thuận - một người "lâm báo và yêu thơ” [10, tứ 7]. Chi lot lòng ở chốn Bạc Liêu hiền hòa nên thơ. Năm lên 4 tuổi, Ngọc Tư được đưa về quê hương của mình là xã Tân Duyệt, huyện Đằm Dơi, tỉnh Cả Mau.
Là con sai trong gia dình nhưng chỉ không được sống rong sự chăm bằm của cha mẹ mà ở cùng ông ngoại. Lúc ở trường phổ thông Bé Tư là học sinh giỏi Văn của trường Phan Ngọc Hiển. Năm chị học lớp 10 cũng là năm cảnh nhà sa sú, ông ngoại bì tại biến mạch máu não. Ngọc Tư phải nghỉ học ở nhà phụ má, châm sóc ngoại.
Chín năm đến lớp thỄ cũng đã đủ, chỉ tự an ủï và bù đấp cho mình bằng những trang nhật ký. “Thấy con có khiếu văn chương, cha chị động viên: “Ngl nấy, viết điều gì con đã trải qua. Chính những ngày tháng, bộn bể lo toan ấy đã đưa nhà văn của tương lai đến gần hơn với người nông dân, với những kiếp người bé mọn. Bao suy tư trấn trở chuyện thường ngày, chỉ trất vào trang nhật kí Hanh phiic mim cười với Ngọc Tư năm 24 tuổi, chị làm cô dâu và đây cũng là thời gian chị dần bước lên văn đàn văn học hiện đại Việt Nam.
Dầu phối đảm nhận nhiều công việc rong cuộc sống nhưng chỉ vẫn miệt mãi dâng hiển cuộc đời của mình cho nghiệp viết. Chỉ có Ngọc Tư là thằm cảm, cơn chuỗi ngày nghèo khó đã giúp chị vốn sống, nghị lực để trở thành một nhà văn trẻ của vùng đất Mũi. 2 Mai trường sống “đậm mài hương thổ "Tuổi thơ lam lũ gắn bó với vùng đất Mũi nghèo khổ khiến Ngọc Tư quen với mùi hãng hãng của có khi sa mưa, mỗi nông nằng oỉoỉ của đất, mỗi thơm đây từ nồi mắm chắm rau đồng. Chị cũng hiểu và cảm thông hơn nỗi vất vã của những người nông dân “một nắng hai sương” mà vẫn không thoát khỏi cảnh cơ hàn.
Nỗi trăn trở về cuộc sống và con người cứ theo thể mà lớn thêm mãi. Chính những âu lo, trăn trở ấy đã đưa Ngọc Tư đến với nhiều thành công hơn khi viết về người nông dân sau này. Không gian sống của Nguyễn Ngọc Tư là một vùng quê Nam Bộ với sông nước mệnh mang, con người tốt bụng, hào sảng, lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán mang sắc thái riêng biệt của đất Hậu Giang, của rừng U Minh. Nơi Ấy có rừng đước, răng bin, rimg mắm khua động dưới từng nhịp chèo, trong câu hồ niu áo người vẺ, từng mái dần bơi xới dòng phi sa ngầu đục, có lau sậy, kinh rạch, có chợ nổi bập bằnh thuyền ghe, có những khu vườn, khoảng sân với ming gả, vạn thọ, sao nhái rực rờ mỗi mùa Tết, có những phiên chợ quê với món rau tip ting, dim trái bình bát, rổ cá rõ đồng, mấy ái nhãn lồng chín cây.
Để rồi khi bén duyên với nghiệp viết, một thể giới Đắt Mũi "trùng trình trước sóng nước” hiện din din nơi ngòi bút của nhà văn trẻ "dữ dội mà nhân tỉnh”, Lớn lên trên mảnh đất quê hương sông nước với chân đắt đầu trằn, với những ngày mưu sinh cơ cực, với dáng mẹ tảo tằn đã giúp nhà văn hiểu và trấn trọng nhiều hơn những gi tr chân chính trong cuộc sống như thành quả lao động, như tình người. Vì thể, khi đi ngang qua những mảnh đ: chân chị cứ châm ni, chậm ri, âm chỉ tấu năng suy tr, trấn trở với từng "chỉ tiẾP: Cả khi đứng trước những thứ thách tường phải bỏ xứ mà đi (vụ "Cảnh đồng bắt tậ), chị vẫn bám chật vào mảnh đắt quê "Tôi thấy tuyệt, cho đến bây giờ, tôi yêu nơi này không phải vì một vài người nào đó (và không thé vi một vài người nào đó mà tôi bỏ đi) [12]. Chính tình yêu quê hương làm nên nguồn mạch dỗi dào cho nhiều trang viết của chỉ Minh dit Ca Mau đã là nguồn cảm hứng, là nơi chấp cánh cho một cánh chim sẽ bay cao trên bầu trời văn học Việt Nam - Nguyễn Ngọc Tư. "Đọc văn của chị, người đọc thấy cảnh, thấy người, thấy tính cách, giọng điệu 'Nam BỘ tràn diy câu chữ như một niễm tự hảo.
Chị đích thực là người con của đất Nam Bộ, chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa vùng đất rộng rãi, hảo. Niềm đam mê, chung thuỷ với văn chương, “Thuở nhỏ, Nguyễn Ngọc Tư đã học giỏi môn văn nhưng khi các bạn cùng lớp tập tỄnh viết văn thì chị không có biểu hiện gỉ. Cuộc đời tưởng cit thế tôi đi, cô Bé Tư ngày nào sẽ trở thành một cô thôn nữ gắn bó với đồng ruộng, sông nước hay an phận là một cô tạp vụ văn phòng. Thế nhưng cuộc sống quả có những bắt ngờ, cô Bé Tư Ấy giờ lại trở thành một nhà vin dly triển vọng.
Văn chương như cái nợ tự ngàn xưa của chỉ. Hay phải chăng chính vi: Quê ngho lắp lánh cát trưa/Gót chân mẹ bỏng bây giờ còn in mà Nguyễn Ngọc Từ tìm đến văn như để nói hộ bao con người còn lam lũ ở quê me? “Truyện ngắn Đổi thay — tác phẩm đầu tay được in ở báo Văn Nghệ Cả. Mau, đã làm cho Ngọc Tư cảm thấy rất phần chấn và mê mẫn. Cũng từ đó, chi tin rằng ngoài sự may min tdi cho, chị đã có duyên nợ với trang viết như là mỗi duyên tiễn định.
Vừa làm báo, vừa viết văn, Ngọc Tư không ngừng xông xáo đến vũng sâu, vùng xa, để rồi “cảnh làng quê hoang tàn, cảnh bà cụ khóc con, cuộc sống ngư phủ hẳm hiu”. đã thành ký sự Nổi niém sau cơn bão, tác phim đạt giải ba báo chí của tỉnh năm 1997. Đó cũng là lần đầu tiên Nguyễn Ngoc Tư ý thức hơn hết nỗi trăn trở của một người cằm bút sáng tạo nghệ thuật. Giống như người nông dân cần mẫn gieo hạt trên từng trang viết, sau những ngày khổ cực ươm mắm chăm tưới là một mùa gặt bội thu, nữ văn sĩ đã đạt rắt nhiều thành công lớn.
Đây chính là sự dđền bù xứng đáng cho một cây bút không ngừng trăn trở. Một số giải thưởng tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Tư có thể kể đến như: ~ Giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001 với tập truyện ngắn Ngọn đền không ắc Tập sách nay đã được chọn in lại trong Tủ sách vàng của NX Kim Đông, 2003 ~ Năm 2003, chị là một trong “10 nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu năm. ~ Năm 2006, chị được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cho truyện vừa Cánh đồng bắt tân ~ Đặc biệt năm 2008, Hội Nhà văn Việt Nam đã nhất trí chọn Nguyễn Ngọc Từ với tập truyện ngắn Cánh đỏng hắ: tấn (NXB Trẻ- 2005) là đại diện từ Việt Nam nhận giải thưởng vẫn học Hoàng gia Thái Lan khởi xướng từ năm 1970, được trao tặng hàng năm cho các nhà văn, nhà thơ xuất sắc ở mỗi nước trong cộng đông ASEAN. Đây là lần đầu tiên một nhà văn trẻ của Việt 'Nam được giới thiệu đi nhận giải thưởng cao quý này, còn trước đó, giải chỉ được trao cho những nhà văn kỳ cựu trong làng văn như: Tổ Hữu, Ma Văn Kháng, Hữu Thỉnh, Bằng Việt “Tác phẩm của chị còn là nguồn cảm hứng dồi dio cho nền điện ảnh trong và ngoài nước.
Cái ơi cùng với Biển người mềnh mông được chuyển thể thành bộ phim Cái ơi đài 90 phút do TFS sản xuất năm 2006 (Đạo diễn Phuong Điền; Kịch bản: Hoài Phương). Năm 2010, truyện ngắn Cánh đẳng. bất tận cũng được chuyển thể thành bộ phim cùng tên rất ăn khách của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Binh, Ra đời muộn hơn, có khi luân phiên giữa các tập truyện là những kí, tap văn, tân văn, tiểu thuyết của chị được in thành các tập: Nước cháy mập" rỗi (Tập truyện ngin va ki), NXB Van nghé Tp. Hồ Chí Minh, 2004; Sống châm thời @ (tản văn, in chung với Lê Thiếu Nhơn), NXB Thanh niên, 2006; Ngày mai của những ngày mai (Tân văn), NXB Phụ nữ, 2009; Yêu người ngông múi (Tản văn), NXB Trẻ, 2010; Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, 'NXB Trẻ, 2010; Gáy người thì lạnh, NXB Trẻ, Tp.
Hồ Chí Minh, 2011. Và gần đây nhất là tiêu thuyết Sóng do NXP Trẻ, Tp. Hỗ Chí Minh phát hành ngày 17/09/2012. Nguyễn Ngọc Tư đã thằm cảm ơn những chuỗi ngày nghèo khó đã giúp chỉ sô sống, nghĩ lực để trở thành một nhà văn trẻ của vũng đắt cực.
Nam của Tổ quốc. Chúng ta có thé hoàn toàn tỉn tưởng vào một Nguyễn "Ngọc Tư của ngày mai trưởng thành và dày dặn kinh nghiệm. Chi sẽ còn tiếp tục đi trên con đường duyên ng ấy để rồi sẽ góp phần không nhỏ cho ding chảy văn học nước nhà đang cùng đất nước hội nhập, 1. 4 Thiên tỉnh nữ đậm Là một nhà văn nữ, Nguyễn Ngọc Tư cũng mang trong mình những, nét hồn hậu, nữ tính vốn có.
Đó là thiên tính tự nhiên và ý thức phái tính của. người phụ nữ hiện dại nhưng vẫn bảo lưu được những giá tr của văn hóa truyền thống. Con người văn chương và con người đời thường của chị chẳng có sự khác biệt là mấy. Chị viết gần gũi như chính đời thường, như cách ăn nói, dáng dấp giản dị của chị.
Cảnh người, cảnh đời, ngôn ngữ đời sống bình di hàng ngày cứ thể ủa vào trang viết. Vì thể, những trang văn của Ngọc Tư đều đi thẳng vào lòng người đọc bởi chị dang tập sống, nghe, nhìn, trải lòng én qué cia minh, Thing thẳng, nhỏ nhẹ như người con gái quê vừa hái rau muống vừa kể chuyện, những câu chuyện lúc da iết, lúc hóm hình. “Có thể nói, cốt lõi của “nữ tính” chính là tỉnh mẫu tử, là tái tim tha thiết của một người mẹ yêu con. Với những trang văn của mình, nhà văn đã khai thác tình mẫu tử theo một góc nhìn riêng từ cảm nhận của một người mẹ.
Nguyễn Ngọc Tư cả ngoài đời cũng “tinh nữ”.