Chương 1: Tiểu thuyết Cao Duy Sơn trong nguồn chung của văn xuôi viếtvề miền núi sau 197% Chương 2; Hiện thực cuộc sống và con người trong tiểu thuyết Cao. Duy Son Chương 3: Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Cao Duy Sơn từ phương thức thể hiện à CHUONG 1 TIEU THUYET CAO DUY SON TRONG NGUON CHUNG CUA VAN XUOI VIET VE MIEN NUI SAU 1975. KHAI LUQC DIEN MAO VAN XUOI VIET VE MIEN NUI SAU 1975 Ngoài một số truyện đường rừng ra đời trước 1945, văn xuôi viết về miễn núi trong văn học Việt Nam hiện đại được hình thành, phát triển chủ yếu. từ sau Cách mạng tháng Tám.
Đây là một mang van học, một đẺ tải lớn, từng đem lại những tác phẩm đứng ở vị trí hàng đầu trong nền văn học cách mạng. Từ sau 1975, nước được độc lập, văn học có nhiều thay đổi đáng kể. Hòa chung vào xu thể phát triển của văn học dân tộc, văn xuôi miền núi cũng đang từng bước đổi mới để khẳng định được vị trí của mình. Nhiều tác phẩm văn xuôi giành được giải thưởng văn học cao trong nước và quốc tế những năm gần đây lại là các tác phẩm viết về miền núi.
Văn học có sự mở. rong vé dé tài, trong đó để tài miền núi đạt được những thành tựu mới. Đội ngũ nhà văn viết về miễn núi ngày càng đông đảo, tạo nên sự phát triển đồng. 'bộ của văn xuôi miền núi trong sự vận động chung của văn học dân tộc.
Sau 1975, văn học để tài miền núi xuất hiện đội ngũ những nhà văn. mới như: Vũ Xuân Tửu, Đỗ Bích Thúy, Lò Ngân Sin, Sa Phong Ba, Hlinh Nié, Bai Như Lan, Niê Thanh Mai, Cao Duy Sơn, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Duy Nghĩa, Đoàn Hữu Nam. Chính đội ngũ này đã làm nên diện mạo mới cho văn xuôi miễn núi. Họ đã kế thừa thế hệ trước khi khai thác mảnh đất nhiều via tằng văn hóa, nhưng mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực phong phú, đa dạng hơn và hiện đại hơn.
Diện mạo, thành tựu của văn xuôi viết về núi có sự góp mặt đông đảo nhiều thế hệ nhà văn. Những tác giả người Kinh viết về miền núi Các nhà văn viết về miễn núi trước hết là những người yêu thương và. say mê khám phá, tìm hiểu về con người, truyền thống, đời sống vùng cao. 12 Dau không sinh ra ở những miễn cao, nhưng nhiều nhà văn xem miền núi là mảnh đất của chính mình, và "viết văn giống như một cuộc viễn du về cội nguồn, cuộc viễn du về xứ sở mình sinh ra, lớn lên và trưởng thành”.
Đội ngũ sáng tác trong giai đoạn trước mà tài năng đã được khẳng định tiếp tục sáng tác về miễn núi và gặt hái được nhiều thành công. Đó là Tô Hoài với Họ Giàngở Phiềng Sa (1984); Mạc Phi với tiểu thuyết Rừng động (tập 2, xuất bản 1977); Ma Văn Kháng với Vùng biên di (1983). các nhà văn trên vẫn tiếp tục mạch cảm hứng về cuộc đấu tranh cách mạng. của các dân tộc thiểu số và công cuộc xây dựng cuộc sống mới của đồng bào.
Ma Văn Kháng được đông đảo bạn đọc biết đến với hàng loạt truyện ng’ iéu thuyết, nhất là tiểu thuy tài miền núi, tiểu thuyết sử thi có tằm vóc xứng đáng với số phận lịch sử của miễn Tây Bắc. Hơn hai mươi năm gắn bó với mảnh đất Lào Cai, hiện thực và con người nơi đây là chất liệu, là nguồn cảm hứng nghệ thuật vô tận cho những đứa con tỉnh thần của ông. là chăng đường đài nhà văn “nhận thức được cuộc bắt rễ cuộc đời mình vào. đời sống của mọi người”.
Đẳng bạc trắng hoa xỏe (1979), Vùng biên ải (1983), Gặp gỡở La Pan Tẩn (2001) là sự kết tỉnh thành tựu của Ma Văn Kháng l tài dân tộc và miền núi. Ma Văn Kháng đã dựng lại trong Đẳng bạc trắng hoa xỏe bức tranh toàn cảnh xã hội và phong tục đặc biệt bằng. những hình tượng sinh động cụ thể. Bằng hình tượng nghệ thuật, Ma Van Kháng đã chứng minh rằng đồng bảo các dân tộc ít người, mặc dù bị chìm đắm trong đau khổ, tăm tối nhưng đều có mầm sống, khả năng cách mạng.
Miễn núi của các tác phẩm văn xuôi trước năm 1975 dường như luôn luôn nằm trong không khí cách mạng, con người gắn với đạo đức cộng đồng, đạo đức cách mạng; thì sau 1975, miền núi là thế sự cuộc đời, con người đạo 13 đức lại gắn với những chỉ tiết đời thường, gắn với cuộc sống hằng ngày với những hạnh phúc, khổ đau, trăn trở dẫn vặt của mỗi số phận cuộc đời riêng. Nguyễn Huy Thiệp bên cạnh những tác phẩm viết về phố thị đặc biệt quan tâm đến số phận con người miễn núi. Trong một số truyện ngắn viết về đề tài miền núi của Nguyễn Huy Thiệp như Sóng để iii Những ngọn gió Hua Tét, Muối của rừng. mỗi quan hệ giữa con ngườ với tự nhiên và con.
người với xã hội được giải quyết bằng cách tác giả để họ xuất hiện và tồn tại trong mớ bòng bong đầy cạm bẫy, đầy rắc rối của hoàn cảnh thể sự cuộc đời; xuất hiện giữa xấu và tốt lẫn lộn, giữa tình yêu và thù hận, giữa sống và.để con người phải tự ngoi lên hoặc bị nhắn chìm là sự quyết định của. mỗi người. Ngoài ra còn có một số tác giả khác như Đoàn Hữu Nam, Hà Đức Toàn, Nguyễn Khắc Đi với Chớp múi (1998), Hồ Thủy Giang với Nhà có năm người (2008), Nguyễn Hữu Nhàn với Rừng cười (2008), Tống Ngọc Hân với Khu vườn yên tĩnh (2009), Đỗ Kim Cuông, Lê Văn Thiềng, Phù Ninh, Đinh Công Diệp, Nguyễn Văn Cự, Hoàng Việt Quân, Ngọc Phượng, Phạm Duy Nghĩa Trong số các nhà văn thể hệ sau viết về. núi, Phạm Duy Nghĩa là người đã có nhiều đóng góp.
Với tập truyện ngắn tiêu biểu Cơn mưa hoa mận trắng, Phạm Duy Nghĩa đã khẳng định tên tuổi trên văn đàn. Trong một bài viết của Phạm Duy Nghĩa- Diện mạo văn xuôi đương đại về dân tộc và miễn múi (đăng trên Tạp chí /ăn nghệ Quân đội cuối tháng 4 đầu tháng 5 nam 2010), tác giả khẳng định: “Ngoài những vấn đề mang tính xã hội, một số tác phẩm đã đi vào các khia cạnh của đời tư con người”. Phạm Duy Nghĩa cũng khẳng định chất văn xuôi, chất tiểu thuyết dồi dào trong các tác phẩm và nêu cao tỉnh thần nhân văn, nhân ban đang là xu thể chung của văn học miền núi “4 'Nhà văn Sương Nguyệt Minh trong bai Bi tim con muca hoa man trắng thay lời giới thiệu cho tập truyện ngắn Cơn mưa hoa Mận trắng, đã viết: “Đọc. Phạm Duy Nghĩa tôi dễ liên tưởng đến cái lung linh, óng ánh, dịu dàng của Pautốpxky, cái man mác, trong trẻo của Aitơmatốp, nhưng cũng cảm thấy cái nồng nàn, lọc lõi tinh đời của Ma Văn Kháng.
Nhưng Phạm Duy nghĩ không bị che lắp bởi những cái bóng văn chương đồ sô trước anh mà lại “ bản lĩnh nhận thấy cái nào là của mình tỉnh túy và chạy vượt ra khỏi cái bóng của tiền nhân đang âm thầm đổ xuống, để mang bản sắc riêng tự lớn” [26, trl3] 1. dân tộc thiểu số viết về miễn núi. Trong giai đoạn này, các tác giả dân tộc thiểu số tiếp tục đổi mới để. bắt kịp xu thể của thời đại.
Nhà văn Nông Viết Toại với truyện ngắn “ăn PÖi, Ngân muộc, Chài vệ quắc đoàn. Mã A Lềnh với hai tập truyện kí: Có một con đường, Rong ruổi vàng cao. Tác phẩm của Mã A Lènh là một bức thông điệp về hiện thực thiên nhiên hùng vĩ đang đứng trước nguy cơ bị hủy diệt. Tác giả thức tỉnh eon người vùng cao phải bảo vệ thiên nhiên và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.
Vi Thị Kim Bình, Vi Hồng, Triều Ân, Nông Minh Châu tiếp. 'tục khám phá cuộc sống của những con người mới ở vùng cao. Vi Hồng vi Niềm vui (1919), Chiếc khăn màu xanh (1987); Hoàng Hạc với tập truyện Hat giống mới (1983), tiêu thuyết Sông gọi (1986). Ngoài ra còn có thêm một số tên tuổi mới như Sa Phong Ba (người dân tộc Thái ở Sơn La), Y Diéng (Tây Nguyên).
Sa Phong Ba bắt dầu. lết từ 1971 và tập hợp lại trong tập truyện ngắn Những bông ban tím (1983). Truyện ngắn của ông phản ánh tỉnh thần làm chủ tập thể, xây dựng hợp tác xã ở vùng nông thôn miền núi. Y' Điêng vẫn miệt mài bên dòng Hinh với tập truyện dai Hor Giang (1978), Drai H'ling di vé phia ánh sáng (1985).
Tác phẩm của Y Điêng tái hiện lại cuộc chiến đầu kiên cường của dân tộc Tây Nguyên trong những năm tháng. Cuộc sống, bản sắc văn hóa Tây Nguyên thấm đẫm trên từng. trang viết của ông. Ở các vùng Tây Bắc, Vi Hồng là cây bút tiêu biểu của nền văn học các.
dân tộc thiểu số Việt Nam. Với ý thức lao động nghệ thuật nghiêm túc và “cdin cù như một cái cuốc”, chỉ trong khoảng ba mươi năm cằm bút, Vi Hồng. đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm: 15 cuốn tiểu thuyết, 4 tập. truyện vừa, 1 tập truyện ngắn, 7 cuốn sách nghiên cứu và sưu tầm văn học.
Dù viết về những con người của quá khứ hay hiện tại, dù kể lại những chuyện vui hay chuyện buồn của cõi đời và cõi người, văn chương Vĩ Hồng bao giờ cũng thấm đượm một tinh thần nhân văn cao cả. Cái gốc của tỉnh thần nhân văn ấy chính là tình yêu thiết tha với đất nước và con người 'Việt Nam nói chung và với đất nước, con người miền núi nói riêng. Triều Ân với tiéu thuyét Dam ngàn rong ruồi (2000), xây dựng những. nhân vật luôn có sự chuyển hóa giữa các cực đối lập.
Tuy còn khiên cường. Đặm ngàn rong ruồi đã thể hiện nét tích cực ở cái nhìn con người trong quan điểm phát triển, như một sự phủ nhận cái nhìn tĩnh tại, một chiều thường thấy. trong văn xuôi miỄn núi Đỗ Bích Thúy được xem là nhà văn nữ tiêu biểu cho người miễn núi viết về đề tài miền núi hiện nay. Đỗ Bích Thúy luôn ý thức “bản chất của miễn núi vừa là điểm tựa lại vừa là cái đích” mả nhả văn miễn núi muốn vươn.
Với tiểu thuyết đóng của cây sôi (2005) và tập truyện Tiếng đản mới sau: bờ rào đá (2006), ngòi bút Đỗ Bích Thúy hướng vào những hay dở, được mat ở miễn núi do tác động của kinh tế thị trường, và trong cái nhìn của người viết, sự vỗ vập thái quá khi tiếp nhận cái mới ở vùng cao hay quan niệm bảo thủ muốn giữ nguyên lễ thói cũ đều không phải là giải pháp tích cực cho đời sống con người miền núi.