Chương 1. Tổng quan tài liệu Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo.
CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. MOT SO QUAN DIEM VE PHAN VUNG SINH THAI NONG NGHIEP Hiện nay, nền nông nghiệp hiện đại đang làm cho tốc độ sa mạc hóa gia tăng, giảm hiệu quả canh tác nông nghiệp của hiện tại và tăng nguy cơ mắt khả năng sản xuất của môi trường đất trong tương lai, an ninh lương thực bị đe dọa trên phạm vi toàn cầu, trước thực trạng đó một xu hướng, một quan điểm mới về sản xuất nông nghiệp được hình thành. Đó là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững hay gọi là nền nông nghiệp sinh thái học [36]. Nông nghiệp sinh thái, theo Lê Văn Khoa, 1999, là nền nông nghiệp kết hợp hài hòa những cái ưu điểm, tích cực của 2 nền nông nghiệp: nông nghiệp hóa học và nông nghiệp hữu cơ một cách hợp lý và có chọn lọc nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại (nông nghiệp bền vững); thỏa mãn nhu cầu ngày cing tăng của con người về sản phẩm nông nghiệp.
nghĩa là phải đạt năng suất cao, phẩm chất nông sản tốt với mức đầu tư vật chất ít và hiệu quả kinh tế cao. Để có thể xây dựng được một nền nông nghiệp sinh thái học, việc làm cần thiết đầu tiên đó là phải phân định được các vùng lãnh thổ theo những điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thích hợp để có thể khai thác một cách tốt nhất và bền vững nhất. Phân vùng nông nghiệp tự nhiên là một dạng thống kê theo lãnh thổ, những điều kiện và tài nguyên thiên nhiên, khối lượng, trạng thái, chất lượng. và khả năng sản xuất nông nghiệp của chúng trong một hệ thống phân vi thống nhất (Phân vùng nông nghiệp tự nhiên Quỹ đắt Liên Xô 1984) [47].
Phân vùng nông nghiệp tự nhiên phát hiện quy luật phân bố không gian và thời gian những yếu tố chủ yếu của môi trường tự nhiên quy định những sự. khác nhau của sản xuất nông nghiệp. Nó cung cấp cơ sở khách quan, khoa học cho những kế hoạch khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ môi trường tài nguyên nông nghiệp nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung. Phân vùng nông nghiệp tự nhiên là cơ sở cho việc xây dựng tông sơ đồ sử dụng đất, là cơ sở cho phân vùng sản xuất nông - lâm nghiệp, cho việc lựa chọn tập đoàn cây trồng, hệ canh tác hợp lý hơn, thuyết phục hơn nếu liên hệ tới những điều kiện môi trường và yêu cầu sinh lý, sinh thái của chúng (Phân vùng nông nghiệp tự nhiên lên Xô 1984) [47].
Phân vùng sinh thái nông nghiệp là sự phân chia lãnh thổ thành các vùng sản xuất nông nghiệp khác nhau, dựa trên cơ sở các điều ign sinh thái đất - nước - khí hậu khác nhau. Phân ving sinh thái nông nghiệp tạo cơ sở cho việc sử dụng tài nguyên nông nghiệp có hiệu quả tối ưu, phát huy đầy đủ tiềm năng của từng vùng nhằm lựa chọn đúng các loại hình sử dụng đắt nông, lâm. Phân vùng sinh thái nông nghiệp ở Việt Nam làm cơ sở cho việc xây. dựng quy hoạch tông thể các vùng kinh tế cũng như quy hoạch sử dụng đất của các tỉnh trong toàn quốc.
Phân vùng mang những đặc tính: [35] ~ Tính toàn vẹn lãnh thổ. ~ Tính ước định ranh giới. - Tính chủ quan trong phân vùng thể hiện mục đích phân vùng theo ý thức mong muốn của con người. Phân vùng phải đảm bảo các nguyên tắc: [35] - Có sự đồng nhất tương đối của sự phân hóa các chỉ tiêu phân vùng.
- Có sự lựa chọn các nhân tổ trội trong khi xem xét các biểu hiện mang. tính ôn định của Hệ sinh thái tự nhiên. ~ Bảo đảm tính toàn vẹn lãnh thổ tiện cho việc khai thác, bảo vệ và quản lý vùng. TINH HINH NGHIEN CUU UNG DUNG PHAN VUNG SINH THAI NONG NGHIEP TREN THE GIOI VA TAI VIET NAM 1.
Tình hình nghiên cứu ứng dụng phân vùng sinh thái nông nghiệp trên thế giới Phân vùng thổ nhường và phân vùng khí hậu có liên quan chặc chè đến phân vùng sinh thái nông nghiệp. Ivanova và cộng sự (1962) đã công bó sơ đồ phân vùng địa lý thổ nhường của Liên Xô. Ở phía Đông, Đông Bắc Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản cũng đã hoàn thành việc phân vùng địa lý thổ nhưỡng. Về tự nhiên, trái đất được chia thành 6 cl u lục, mỗi châu lục có những đặc điểm về khí hậu khác nhau.
Trong mỗi châu lục lại có sự phân miễn khí hậu. Phân vùng sinh thái nông nghiệp đã được sử dụng từ năm 1978 để xác định tiềm năng sản xuất nông nghiệp và khả năng sử dụng diện tích đất trên thế giới. Tại các nước có nền nông nghiệp phát triển như Mỹ, Đức, Hà Lan, Trung Quốc đã hoàn thành việc phân vùng nông nghiệp. Năm 2002, Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đã tiến hành thực hiện Quy hoạch phân vùng sinh.
thái nông nghiệp trên phạm vi toàn thể giới [49]. Tình hình nghiên cứu ứng dụng phân vùng sinh thái nông nghiệp tại Việt Nam Những cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước về phân vùng lãnh thô của các vùng kinh tế, các ngành chuyên môn từ các thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước là thông tư 193/UB/VP ngày 11/2/1963 của Ban phân vùng kinh tế thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, và Quyết định 270/CP ngày 30/09/1977 của Hội đồng Chính phủ, nay là Chính phủ đã hướng dẫn và thực hiện việc phân vùng kinh tế theo các chuyên ngành cụ thể dưới đây [35]: " “Trước tình hình biến động thất thường của thời tiết, an ninh lương thực. thế giới đứng trước nguy cơ bị đe dọa, việc xây dựng các chiến lược nhằm. thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp đang là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm.
Tác động của biến đối khí hậu đến hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam Việt Nam là một trong số các quốc gia đang pj ¡ gánh chịu tác động nặng nề của BĐKH. Ngành nông nghiệp đang dẫn thấy rõ những tác động bắt lợi từ thị + cực đoan do BĐKH gây ra [13]. Trong 50 năm qua (1958 - 2007) nhiệt độ trung bình năm của nước ta tng khoang tir 0,5°C - 0,7°C, nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè, nhiệt độ các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn nhiệt độ các vùng phía Nam, trong khi lượng mưa trong 50 năm qua đã giảm khoảng 2%. Đây là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng mùa đông ngắn hơn, ấm hơn nhưng lại có những đợt rét chưa từng có [7].
‘Theo kịch bản BĐKH và nước biển dâng cập nhật chỉ tiết cho Việt Nam năm 2012, do Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường) công bố ngày 17/4, tại Hà Nội thì có tới 39%. dân số Đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng trực tiếp do tác động của biến. đổi khí hậu và nước biển dâng. Nếu mực nước biển dâng cao Im.
sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long. trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng, trên 2,5% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phó Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập. Theo kịch bản phát thải thấp, vào cuối thể kỉ 21, trung bình toàn dải ven biển Nam, mực nước biển dâng từ 49 ~ 64 em. Theo kịch bản phát thải trung bình, mực nước.
biển dâng từ 57 - 73em. Theo kịch bản phát thải cao, mực nước dâng từ 78 — 12 95 em, riêng khu vực Cà Mau đến Kiên Giang có thể lên tối đa 105 em. Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm tăng 2-3°C trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với các nơi khác, lượng mưa năm tăng từ 2-7%, khu vực Tây Nguyên có mức tăng thấp hơn. [45] Nhiệt độ tăng làm băng tan và mực nước biển tăng lên.
Khi mực nước. biển tăng đồng nghĩa với nguy cơ mắt đất nông nghiệp. Do vậy, một diện tích. không nhỏ các dải đất canh tác ven biển sẽ bị nhắn chìm, bị xâm mặn.
Theo ước tính của Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) khi mực nước biển tăng 1m, đồng bằng sông Hồng sẽ bị ngập 5000 km” và đồng bằng sông Cửu Long bị mắt 15.000 kmỶ, sản lượng lượng thực Việt Nam giảm 12% (xấp. xỉ 5 triệu tắn lúa). Đồng thời làm mắt 12% - 14% diện tích đất do ngập nước, khả năng xuất khâu gạo không còn [1]. “Trong những năm gần đây, các hiện tượng thời tiết cực đoan đang gây thiệt hại lớn đối với ngành nông nghiệp nước ta.
Tuy không có sự gia tăng số lượng các cơn bão đô bộ vào nước ta nhưng những năm gần đây sự bất thường của chúng có thé quan sát được rõ ràng qua các biểu hiện như quỹ đạo. bão dịch dần về phía nam, mùa bão kết thúc muộn hơn, đường đi của bão dị thường hơn trước [7]. Các cơn bão liên tục đồ bộ vào Miền Trung gây ra triều cường và hiện tượng nước biển xâm nhập vào đất liền ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất nông lâm, ngư nghiệp. Gần đây, bão có xu hướng tiến sâu về phía Nam, có nhiều cơn bão lớn đã gây tổn thất nặng nề cho người dân như cơn bão Linda năm 1997 đã đổ bộ vào Cà Mau với cường độ rất lớn, có thể coi là cơn bão mạnh nhất tính từ dầu thế kỷ XX đến nay.
Hạn hán cũng diễn ra thường xuyên hơn và hậu quả của nó để lại cho ngành nông nghiệp là không nhỏ, đáng chú ý như đợt hạn hán 1976 ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã gây thiệt hại 13 cho khoảng 370.000 ha cây lương thực. Hạn hán năm 1982 lam cho 180.000 ha cây lương thực ở 6 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bị mắt trắng, năm 1994 - 1995 Đắk Lắc phải gánh chịu đợt hạn hán nặng nhất trong 50 năm qua, ảnh hưởng tới cây trồng, nhất là cà phê, ước tính thiệt hại lên đến 600 tỷ đồng. Nhiều trận lũ lịch sử tàn phá trên diện rộng để lại sau lũ là gánh nặng cho nền kinh tế nước nhà và nền nông nghiệp chịu hậu quả nặng nề. Chỉ tính riêng 2007, tổng thiệt hại gây ra ở 50 tỉnh thành phó trên cả nước ước tính đến 11.600 tỷ đồng, trong đó hàng trăm nghìn hecta lúa bị hư hại, thủy lợi bị phá hủy, tình trạng thiếu đói xảy ra liên miên [1].