Chương 1: Téng quan tài liệu Chương 2: Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và thảo luận 'Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo. CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CUA DAT PHEN VA SY’ TAC DONG CUA NO DEN THUC VAT 1. Khái niệm đất phèn Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nào thật chính xác về danh từ “Đất phèn”.
Theo Lê Văn Khoa, “đất phèn” là loại đất đặt biệt của các ving đầm lầy ven biển nhiệt đới, đất phèn có tên là đất chua man, dat chua sulfate. Đất phèn là tên gọi loại đất sau khi cày bừa, nước ruộng trong được đánh phèn, nước đó có vị chua chát như phèn, trong đất phèn chứa nhiều muối tan, thành phần chủ yếu của muối tan là sulfate sắt và sulfate nhôm [16]. Theo Cao Việt Hưng, Nguyễn Khang và Đào Châu Thu “Đất phèn” là một loại đất có chứa hợp chất của lưu huỳnh với hàm lượng cao, đắt thường có phản ứng chua đến rất chua [14] 1. Đặc điểm của đất phèn Theo Nguyễn Văn Điểm [10], sự tạo thành đất phèn là một quá trình trằm tích, thường tích tụ những khoáng sét vì vậy đất thường có sa cấu nặng Trong dạng khử đất phèn là loại bùn sét chưa thuần thục nhiều xác bã hữu cơ, ở một giai đoạn nào đó thì trong đất có độ mặn tăng theo chiều sâu và thường có khí H;S Theo Trần An Phong [19], nếu xét chỉ một yếu tố là độ phì của đất thì nhóm đất phèn thực sự có độ phì tiềm năng cao thê hiện: + Lượng hữu cơ trong đắt phèn khá cao trung bình 5 - 15% và giảm khi xuống sâu 5 - 8%.
Tuy nhiên ở các loại hình giàu hữu cơ lượng hữu cơ thường 15% không giảm khi xuống sâu. + Mức độ phân giải hữu cơ yếu. + Đạm tổng số trong đất khá giàu, khoảng 0,3 - 0,5% ở tầng mặt. + Lân rất nghèo trong đất phèn do bị cố định bởi các ion AI”, lân dễ tiêu cũng rất nghèo thường nhỏ hơn 5mg/100g đất, một vài nơi không phát hiện thấy lân dễ tiêu, đây là nhóm thiếu lân trầm trọng nhất Đồng bằng Sông Cửu Long.
+ Cae Cation trao đổi như Ca?", MgÈ" thuộc loại nghèo đến nghèo cao nhất từ 3 - 5 me/100g. Theo Nguyễn Văn Lân và cộng sự [17], khi xét về phẫu diện của phèn thấy có 4 tầng trong đó có 3 tầng chính và I tầng phụ. Đặc điểm của tầng có thể tóm tắt như sau: + Tầng trên cùng: còn gọi là tầng canh tác dày từ 0 - 20cm hoặc 30 cm, mùn nhiều, thường có màu đen hoặc xám nếu được canh tác đúng kỹ thuật thì tầng này ít độc chất. Nếu là chất phèn hiện tại thì tầng này có đạm tổng số cao, nghèo lân, sét từ 45 - 70%.
+ Tầng thứ 2: tiếp sau tầng thứ nhất, thường cách mặt đất từ 25 - 60cm. C6 màu vàng rơm, vàng trấu hoặc ở dạng đốm, ố, vệt màu vàng, đặc trưng của chất Fe(SO¿)›, KFes(SO. day 1a tang jarosite (tang sinh phèn), tầng oxi hóa, kết quả chuyển hóa từ tầng pyrite dưới đó). Tầng có độ pH thường từ 3 - 4, sẵn sàng đưa phèn lên tầng canh tác nếu điều ngoại cảnh cho phép.
Tầng này thường có 50 - 70% là sét, 5 - 6% là cát còn lại là dạng bùn. + Tầng thứ 3: tiếp sau tầng thứ 2 được gọi là tang pyrite, tng sét xam, thường có màu xám xanh, xanh nhạt hoặc xám trắng, tỷ lệ sét cao từ 60 - 70% chặt dính dẻo, mùi hôi và tanh. Trong tầng này diễn ra quá trình khử có sự tham gia của vi sinh vật yếm khí rất phức tập dé tao ra sản phẩm cuối cùng là H;S và Fe;S, FeS, Fes„H:O hoặc ở dạng chung Fe,S,¡ giàu S hơn. Đây là tầng dự trữ phèn, nếu có điều kiện thuận lợi sẽ chuyển ngay thành tầng thứ 2 (tang jarosite ).
+ Tầng thứ 4: là tầng phụ thường sâu hon Im, cũng có trường hợp nông. hoặc không có tầng này, tầng này thường có các chất chứa nhiều lưu huỳnh, nguồn gốc của phèn. Tùy từng loại đất mà các tầng này thay đổi độ dày, độ sâu, hoặc không. Trong một số trường hợp các tầng có sự trao đổi hoặc lẫn vào nhau về vị trí, tuy nhiên đặc tính của chúng vẫn không thay đồi, đó là một quá trình chuyển hóa hóa học như đã nêu trên để tạo thành các vùng đất phèn rộng lớn Theo Bùi Đình Dinh [8], đặc điểm của đất phèn là quá chua (pH = 3 - 4).
Hàm lượng nhôm sắt di động cao. Hàm lượng hữu cơ đạm tổng số cao nhưng hàm lượng lân tổng số cũng như lân dễ tiêu thấp, vì vậy sự mất cân bằng đối với N : P trong đất rất nghiêm trọng. Độc chất trong đất phèn và sự tác động của nó đến thực vật Khi nói đến đất phèn thì các nguyên tố gây độc phải kể đến là sắt, nhôm, sulfate (dưới dạng Fe", Fe3*, AI*', SO?) ~ Nhôm: là độc tố quan trọng chỉ phối tính chất và khả năng sử dụng đất phèn. Hàm lượng nhôm rất cao ở đất phèn hoạt tính từ 37 - 130mg/100g đất đặc biệt đối với tầng pyrite.
Hàm lượng AI” càng cao khả năng oxi hóa trong. đất phèn càng mạnh. Theo Yoshida [31], khi cây bị ngộ độc nhôm giữa các gân lá có màu vàng cam. Trong trường hợp nghiêm trọng các chỗ vàng úa trở thành hoại tử.
- Sắt: trong đất phèn thường chuyển hóa rất nhanh ở 2 dạng Fe”, Fe3” Theo Yoshida [31], khi ngộ độc sắt, ở lá sẽ xuất hiện các đóm màu nâu nhỏ, bắt đầu từ chóp lá và lan xuống gốc lá. Các đốm nâu này kết hợp lại trên dọc các gân lá, lá thường vẫn giữ được màu xanh nhưng trong trường hợp thiếu trầm trọng toàn bộ lá trông có màu nâu tím. Nhiều tác giả cho rằng hàm lượng FeŸ” tự do cao là nguyên nhân chủ yếu làm cho cây trồng mọc kém trên đắt chua phèn. - SO, va S: Theo Lê Huy Bá [4], trong đất phèn lưu huỳnh có thể ở dạng FeS, FeS;, H;S, S tự do, dạng lưu huỳnh hữu cơ hoặc là dạng SO;, SO; hay SO,*.
Trong đó các dạng gây độc cho là H;S, SO;”, SO; và SO„”. Với hàm lượng nhỏ, lưu huỳnh là dạng dinh dưỡng của cây (2,0 - 5,0%). Nếu vượt quá lượng này sẽ gây độc cho cây, sự gây độc của lưu huỳnh không phải vì tính chất hóa học của lưu huỳnh mà là vì ngưng tụ cao các muối có hại cho đời sống cây trồng. Tương quan giữa các độc chất trong đất phèn và ảnh hưởng của nó đến quá trình sinh trưởng của cây trồng a.
Tương quan giữa các độc chất trong dat phen Sự biến động độc chất nhất là các ion trong đất phèn biến động rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: thời tiết, khí hậu, mùa vụ, chế độ nước, biện pháp canh tác, thực bì che phủ. và cả sự có mặt của các ion khác trong đất. Tuy nhiên theo Lê Huy Bá [4], [5], sự biến động này có quy luật riêng của nó và tác giả cùng cộng sự đã tiến hành xử lí nhiều thí nghiệm đề đưa ra một hệ số tương quan, có thể tóm tắt như sau: các độc tố thường là tương quan thuận, trong đó đáng chú ý là các cặp SO¿È với Fe? tương quan thuận và rất chặt; Al'” với Fe”” cũng tương quan thuận chặt Nghĩa là khi SO,Ÿ tăng thì Fe?" cũng tăng hoặc ngược lại. Khi AI” tăng thì Fe`” cũng tăng và ngược lại.
Xét tương quan giita Al°’ va SO,” thay rằng AL'' liên hệ chặt chẽ với SO,? dang hòa tan hơn SO,* dang tong sé. Nhu vay, nếu có một tác động nào đó làm giảm một độc chất này thì có khả năng làm giảm độc chất kia. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại trong mối quan hệ đã xét thì chưa phản ánh đầy đủ đặc tính tương quan giữa các ion trong đắt phèn, mỗi loại đất phèn đều có mối quan hệ khác nhau và sự khác nhau này còn biểu hiện trong các tầng đất khác nhau của một loại đất [5] b. Tương quan giữa các độc chất trong đất phèn và ảnh hưởng của nó đến quá trình sinh trưởng của cây trồng Đất phèn có bản chất “rất động”, chứa nhiều độc chất và phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó Fe”, AI?* và SO¿ là những độc chất hàng đầu và hàm lượng lân thấp cũng là một yếu tố quan trọng, theo nhiều tác giả thì những độc chất và các yếu tố này có mối quan hệ với nhau [12], [28] Theo Đỗ Ánh [1], các ion AI hay Fe chỉ mang tính độc hại khi đi kèm với một anion là độc tố của cây trồng cụ thẻ là ion SO/.
này có thể thấy rõ trong đấy phù sa trung tính sông Hồng lượng sắt di động rất cao nhưng không hề bị ngộ độc do sắt. Theo Nguyễn Minh Hạnh và nhiều tác giả khác, nồng độ Fe”, AI*" cao. hạn chế sự hút lân của cây trồng. Theo chiều tăng của nồng độ AI” và Fe`" hàm lượng lân tích lũy trong cây giảm dần, mức độ giảm tùy thuộc vào khả năng chống chịu của giống.
Đắt phèn vốn nghèo lân dễ tiêu Fe?" và AI”" lại hạn chế khả năng hút lân, gây rối loạn dinh dưỡng, tác động sâu sắc đến quá trình sinh lí, sinh hóa trong cây [1], [8], [12]. Sự tác động của đất phèn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật Tác động vào thời kì náy mâm Theo Lê Huy Bá [4], nước phèn có chất độc thể hiện qua pH, ở pH = 10 3,5 ức chế rõ quá trình nảy mầm của lúa và cao lương, pH tăng tỷ lệ nảy mầm tăng, khi pH giảm (độc chất trong đất phèn tăng) sẽ làm rễ không ra được hoặc bị thối, nắm hoại sinh Erichoderma phát triển. Tác động vào thời kì 3 lá thật Đây là thời kì dinh dưỡng trong hạt đã hết, rễ non phải hút dinh dưỡng trong đất nếu gặp chất độc sẽ nguy hiểm cho cây, thời kì này cũng chính là lúc thể hiện giống nào chịu phèn hay không chịu phèn. Theo hau hết nhiều tác giả, sự gây hại là do tác động tổng hợp của các chất độc trong đất và sự xâm nhập của chúng vào trong cây.
Độc chất trong, đất phèn ảnh hưởng rõ đến khối lượng rễ và chiều dài rễ (rễ ngắn, khối lượng thấp), nếu độc tố cao có thê làm rễ teo hết lông hút, nếu lượng sắt quá nhiều thì rễ vàng, đầu rễ vẹo đi hoặc có màu đen nếu bị nặng. Ảnh hưởng này không chỉ thấy rõ ở chiều cao cây, ảnh hưởng độc chất làm giảm chiều cao.