Mở đầu: Gồm 3 trang (trang 1 - 3) + Lý do chọn đề tài + Mục đích nghiên cứu. + Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài m l7 trang (trang 4 - 20). 6i tượng và phương pháp nghiên cứu: Gồm 6 trang (trang 21- 26) ~ Chương 3: Kết quả nghiên cứu và biện luận: Gồm 28 trang (trang 27 - 54) ~ Kết luận và kiến nghị: Gồm 1 trang (trang 55) ~ Tài liệu tham khảo ~ Phụ lục ~ Quyết định giao dé tài luận văn CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Giới thiệu về cây mướp đắng 1.
Nguồn gốc và phân loại mướp đẳng Theo nghiên cứu của Gagnepain (1912) cho ấy mướp đắng có nguồn gốc ở. Châu Á như ở Bắc An Độ hoặc Nam Trung Quốc bởi vì những vùng giáp ranh người ta đã tìm thấy quần thê hoang dại hay quân thê tự nhiên của mướp đắng [28], Theo Reyes M., (1993) [40] mướp đắng (Momordica charantia L.) thuộc Giới (regnum): Planrae Nganh (divisio): Magnoliophyta Lớp (class): Magnoliopsida B6 (ordo): Cucurbitales Ho (familia): Cucurbitaceae Chi (genus): Momordica Chỉ mướp ding Momordica thuéc họ Cucurbitaceae cé khoang 45 loai da biết, tập trung chủ yếu ở châu Phi, một số loài ở châu Mỹ. Châu Á chỉ có khoảng 5-7 loài. Năm 1975 Keraudren công bố ở Campuchia, Lào và Việt Nam chỉ có 4 loài mướp.
Theo Phạm Hoàng Hộ (1991) [8] và Phạm Văn Thanh [14] chỉ Aomordica ở Việt Nam có 3 loài là Momordica charantia L., Momordica cochinchinensis (Louor) Spreng L. và Momordica subangulata Blumem L. Trong các tài liệu nghiên cứu trên và qua các tiêu bản thu thập ở các địa phương trong nước của Viện Dược Liệu, các tác giả thống nhất cây mướp đắng trồng ở Việt Nam déu thudc loai Momordica charantia L. Loai muép ding (Momordica Caharantia L.) có bộ nhiễm sắc thể 2n = 22, được biết đến như một loại cây trồng đã được thuần hóa từ lâu., (1993) thì loài này tồn tại ở 2 quần thể hoang dại và trồng trọt.
Trong đó, dạng trồng trọt hiện nay đã trở nên khá phong phú. kích thước màu sắc bên ngoài của quả, Reyes M. chia các dạng trồng trọt thành 2 nhóm chính: [40] * Nhóm thứ nhất: (Var. Minima Williams et Ng) quả màu xanh, đường kính < 5 em; hạt có chiều dài: 13,0 - 14,5 mm.
Nhóm này gồm 3 nhóm nhỏ hơn: ~ Nhóm quả dài: chiều dai qua 12,0-22 cm ~ Nhóm quả trung bình: chiều dài quả 8,0-12 em ~ Nhóm quả ngắn: chiề dai qua 6,0-7,5 cm * Nhóm thứ hai: (Var. maxima Williams et Ng) quả màu trắng hay xanh; đường kinh > 5 em; chiều dài hat 14,8 - 8. Nhóm này có 2 nhóm nhỏ hơn ~ Nhóm quả trung bình: màu trắmg, dài 12,0 - 17,0 em ~ Nhóm quả dài: màu xanh hay trắng xanh, dài hơn 20,0 cm Cả 2 nhóm đều được trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó, giống có. quả màu xanh thường được trồng ở vùng nhiệt đới [42].
Đặc điểm thực vật học của cây mướp đắng Mướp đắng thuộc dạng cây thân leo, dạng hình tròn nhưng có nhiều cạnh. Khả năng sinh trưởng của thân rất mạnh, có thể bò dài và rộng, thân phát triển dài tới 4m, có lông. Lá có rất nhiều lông nhỏ, nhám, có hình tim, thường xẻ thành 5 đến 7 thùy đều nhau. Lá mướp đắng mọc so le, cuống lá đài 3 - 5 cm.
Các tua cuốn không phân nhánh, vươn dài tới 20 em. Lúc còn non lá có màu xanh, khi già chuyển màu vàng và khô dần [16] Cũng giống như các cây trong họ bầu bí, rễ mướp đắng phát triển rộng nhưng ăn nông. Ở giai đoạn nảy mầm của hạt, cây phát triển một rễ cái (rễ cọc), rễ cái ăn sâu. trong đất ở độ sâu 90 — 120cm.
Các rễ nhánh xuất hiện sau và rất nhiều. Rễ nhánh phát triển nhanh theo chiều ngang và lan rộng trong đắt, tuy nhiên các nhánh này không ăn sâu quá 60 em [1ó]. Trên cùng một cây mướp đắng có hoa đực, hoa cái riêng biệt, số lượng hoa đực thường nhiều hơn hoa cái và xuất hiện sớm hơn hoa cái. Hoa đực có cuống dai 3 - 8 em, có lông, lá bắc hình thận, mép hơi có thùy nông, đính ở khoảng 1/3 về phía gốc cuống hoa, 5 cánh hoa hình thìa, rời, 3 nhị rời.
Bao phấn màu vàng đậm, thường dính nhau và vặn hình chữ “S”. Hoa cái có cuống đài 4 - 10 em, có lông, lá bắc xẻ thùy, đính sát gốc cuống hoa, đài và cánh hoa giống như ở hoa đực, nhụy ngắn, đầu nhụy gồm 3 khối màu vàng đậm đính nhau ở dưới tạo thành hình nón tù. Bầu hình thoi dài, có nhiều gai nhỏ, kích thước bầu (1,5 - 3,0) x (8 - 20,0) mm [46]. Thời gian tồn tại của hoa đực sau nở là 1 ngày, nở vào buôi sáng và rơi xuống gốc cây vào lúc chiều tối.
Thời gian tồn tại của hoa cái sau nở 5 ngày. Sau khi hoa nở khoảng 5 ngày, nếu được thụ phấn thì cây bắt đầu cho ra trái. Những trái non nhú ra từ phần cuống sau khi hoa. tan, Quả mướp đắng có nhiều màu sắc khác nhau, màu trắng, xanh nhạt tới xanh đậm, có các hàng gờ phân bố dọc theo chiều dài quả, các u vấu phân bố rải rác khắp trên mặt vỏ quả.
Quả có hình thoi, dài hoặc hình trụ, hình cầu nhọn hai đầu. Có một số giống thương mại quả dài tới 25,0 em - 30,0 cm, nhưng có giống hoang dại quả chỉ dài khoảng 5. Khi chín quả chuyển sang màu vàng da cam và thường bị nứt ra từ đuôi quả, để lộ ra màu đỏ chói [16] 1. Thanh phan dinh dưỡng và hóa học của cây mướp đắng Mướp đắng (Momordica charamria.
L) là loại cây rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao. Trong quả mướp đắng chứa rất nhiều dưỡng chất có lợi cho cơ thể như sắt, canxi, vitamin A, B, C, protein và khoáng chất. Trong đó, hàm lượng vitamin C của mướp đắng cao nhất trong các cây họ bầu bí [21]. Theo tài liệu của Viện đại Học Purdue về các loại rau quả Châu Á, thành phần dinh dưỡng tính bằng gam trong 100g quả mướp đắng như sau [4]} Bảng 1.1: Thành phân và khối lượng các chất dinh dưỡng trong 100g quả mướp đẳng TT Thanh phan dinh dưỡng Khỗi lượng.
1 Nước 83,0 - 92,0 mg 2 Protein 15-20g 3 Lipit 02-10g 4 Carbonhydrat 4,0- 105g 5 Chat xo 0. 105 - 250 KI 7 Ca 20,0 - 23,0 mg 8 Fe 18-20 mg 9 P 38,0 - 70,0 mg 10 VitaminC 88,0 - 96,0 mg Ham lượng nước trong quả mướp đắng chiếm tỷ lệ cao (chiếm 83,0 — 92,0% tổng khối lượng quả). Hàm lượng nước trong quả cao và hàm lượng các chất hữu cơ (prétéin, lipit, carbonhydrat, chất xơ.) ở mức vừa phải là một điều kiện rất phù hợp để sử dụng làm rau xanh cung cấp các chất dinh dưỡng cho con người. Ngoài ra, khi sử dụng mướp đắng trong bữa ăn hàng ngày chúng ta đã cung cấp thêm một lượng đáng kể Vitamin C, sắt, phốtpho hữu cơ, canxi.
rất cần thiết cho hoạt động sống của cơ thể. Điểm nỗi bậc của trái mướp đắng là vỏ, thịt quả, ruột và hạt đều có giá trị dinh dưỡng cao ngang nhau, trong đó hạt chứa khá nhiều chất béo. Hạt mướp đắng chứa 32% dầu với các acid béo stearic, linoleic, oleic. Thanh phan protein trong hat dao động trong khoảng từ 16,9% dén 19,7% va protein trong citi dao dong tir 6,6% đến 9,5%.
Thanh phan protein c6 trong dung dịch nước chiết xuất từ cùi dao động từ 5,7% đến 10,3% và thành phần protein trong dung dịch nước chiết xuất từ hạt dao động từ 19% đến 22% [33] Vị đắng của mướp đắng bắt nguồn từ một loại glycoside và một số hoạt chất Các glycoside bị phá vỡ khi qua chin (chuyén sang mau cam va sén sệt) nên quả mướp đắng non có vị đắng nhưng quả chín thì ngọt. Theo Md Ashraful và cộng sự (2015), thành phần hóa học được phân lập từ Mướp đắng bao gồm vitamin, khoáng chất, chất chống oxy hóa quan trọng và nhiều chất phytochemical khác như glycoside, saponin, thành phần phenolie, dầu cố định, alkaloids, đường khử và axit tự do. Tùy thuộc vào bản chất đặc tính của các hợp chất phân lập, chúng có thể được chia thành nhiều nhóm. nhu hop chat phenolic va flavonoid, triterpenoids loại cucurbitane, triterpene glycoside loai cucurbitane, triterpene saponin [35] Với những thành phần dinh dưỡng và hợp chất hóa học như trên, quả mướp đắng có rất nhiều cách chế biến món ăn như món xào, hầm, nấu canh, ăn sống, muối dưa chua, dưa mặn hoặc sáy khô.
Khi đời sống ngày càng được cải thiện, mướp đắng đang dần được người tiêu dùng ưa thích bởi giá trị dinh dưỡng cũng như giá trị dược liệu của nó 1. Giá trị được liệu của cây mướp đẳng Theo kết quả nghiên cứu của đông y, quả mướp đắng có vị đắng, tính lạnh, không độc, có tác dụng giải nhiệt, giúp sáng mắt, giảm đau. Hạt mướp đắng có vị ngọt tính ấm có tác dụng bổ khí, tráng dương tiêu độc. Hạt còn có khả năng chống giun mạnh, giúp trục xuất giun đường ruột và ký sinh trùng bằng cách làm choáng hoặc giết chết chúng.
Quả chín của mướp đắng khi được nghiền trong dầu ô liu có hoặc không có hạt, có hiệu quả khi áp dụng cho vết thương, bỏng, ngứa da cũng như cho bệnh phong. Truyền dịch trái cây chín cũng có thể được sử dụng như một phương thuốc cho. Lá mướp đắng dùng trị các chứng đơn độc đỏ tá những vết thương nhiễm khuẩn. Mướp đắng nếu được dùng thường xuyên sẽ giúp giảm các bệnh ngoài đa, làm cho da dẻ mịn màng.
Như vậy, từ lâu đời mướp đắng đã là vị thuốc rất gần gũi với con người [14] Y học cổ truyền và dân gian Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm chữa bệnh từ mướp đắng nhưng chỉ ở dạng thô ban đầu hoặc ở dạng nước ép, nước sắc. Ngày nay, trên thị trường đã xuất hiện nhiều sản phẩm từ quả mướp đắng ở dạng thực phẩm chức năng như trà hoà tan, trả túi lọc, điển hình là sản phẩm Trà Khổ Qua của viện Dược Liệu. Các tác giả Nguyễn Thị Như, Nguyễn Thị Bay đã nghiên cứu tác dụng hạ đường. huyết của một bài thuốc nam trên thực nghiệm lâm sàn, đó là sản phẩm trà túi lọc mà thành phần quả mướp đắng chiếm 60% [1] Việc áp dụng các biện pháp đưa mướp đắng vào y học ngày càng được nâng cao.
Theo y học hiện đại, mướp đắng có tác dụng diệt vi khuẩn và virus, chống lại các té bao ung thư, hỗ trợ đắc lực cho bệnh nhân ung thư đang chữa trị bằng tỉa xạ [15]. Một nghiên cứu về cao từ rễ và lá của cây mướp đắng đã cho thấy, mướp đắng có chứa.