Chương I: Tổng quan tài liệu - Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu ~ Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Kết luận và kiến nghị ~ Tài liệu tham khảo. 4 CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Téng quan về cây dưa lưới 1. Nguôn gốc, phân loại Dưa lưới có nguồn gốc từ vùng Đông Phi (Sudan, Ethiopia, Somalia và Tanzania), là giống dưa hoang dại được thuần hóa ở phía Đông Địa Trung Hải và Tây Á 4000 năm trước rồi lan rộng khắp châu Á.
Ngày nay dưa lưới được trồng rộng rãi trên thế giới, là loài trái cây cũng như rau tiêu biểu của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới I0] Dưa lưới (Cucwmis melo L.), thuộc bộ Cueurbirales, họ Bau bi (Cucurbitaceae) (36) 1. Đặc điểm sinh vật học ~ Dưa lưới phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và khô, nhiều ánh sáng. Nhiệt độ phát triển tối ưu từ 18 - 28°C, phát triển chậm khi nhiệt độ dưới 12°C. Dưa lưới có thể chịu được nhiệt độ lên tới 40°C nhiều giờ mỗi ngày.
Cây dễ chết trong điều kiện sương giá. Độ âm đất cao làm cây chậm phát triển, ảnh hưởng đến chất lượng qua và gây ra các bệnh trên lá. Cây phát triển tốt trên đất nhiều mùn, pH 6 - 7, không chịu được đất quá chua và úng nước [42] ~ Rễ của câu dưa lưới thuộc loại rễ chùm, phân bố chủ yếu ở tầng canh tác 0- 30cm, rộng 50-60 cm [30] ~ Thân của cây dưa lưới thuộc dạng thân cỏ 1 năm, leo bằng tua cuốn [30]. ~ Lá dưa lưới mọc so le đơn, cuống dài, không lá kèm, phiến có lông nhám, thùy.
gân kiểu chân vịt [30]. ~ Hoa đưa lưới mọc ở nách lá, là hoa đơn tính, lưỡng tính. Hoa đực mọc thành chùm 2 đến 4 hoa với 3 nhị. Hoa cái hoặc hoa lưỡng tính mọc riêng lẽ.
Cây thường ra hoa vào tháng bảy đến tháng chín, hạt chín từ tháng tám đến tháng 10 [30] ~ Quả đưa lưới mọng, to, vỏ ngoài cứng, đôi khi hóa gỗ, vỏ giữa dày, nạc, có thể xơ, ruột chiếm bởi cơm quả nhiều nước. Quả dưa lưới chín được dùng tươi hoặc làm. bột trái cây. Quả còn xanh được dùng như một loại rau ăn sống hoặc chế biến các món ăn.
Lá non có thể được dùng như rau gia vị trong món súp. Ngoài ra thân của loài thực 5 vật này có thể dùng làm thức ăn cho vật nuôi [30] Hình 1. Hoa cái và hoa cái cắt ngang của dưa lưới [30] ~ Dưa lưới là nguồn chứa chất chống oxy hóa dạng polyphenol, là chất có lợi cho sức khỏe giúp phòng chống bệnh ung thư và tăng cường hoạt động miễn dịch. Dưa lưới chứa nhiều chất xơ nên có tác dụng nhuận trường, chống táo bón.
Đây còn là nguồn beta-carotenephong phú, acid folic, kali và vitamin C, A phong phú. Trong 100g quả dưa lưới tươi cho 34 kcal; 1.84 g protein; 9 mg calcium; 15 mg magie, 2020ug beta-carotene, 21 ug acid folic (vitamin B9), 169 ug vitamin A; 12 mg vitamin C; 0,041 mg vitamin B1; 0,079 mg vitamin B6 và 0,734 mg niacin [36] 1. Tình hình sản xuất cây dưa lưới trên thế giới va 6 Vigt Nam 1. Tình hình sản xuất cây dưa lưới trên thé giới Dưa lưới là một loại rau ăn quả quan trọng trong họ Bầu bí.
Sản lượng Dưa lưới trên thế giới là 18 triệu tấn trên một năm. Với các nước sản xuất chính là Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, My va Tay Ban Nha [23] 6 Các nước sản xuất dưa lưới nhiều nhất trên thé giới là Trung Quốc với 400.000 ha, Châu Mỹ (Hoa Kỳ, Mexico, các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ) 165.000 ha, Bắc Phi (Ai Cập, Ma Rốc, Tunisia) 110.000 ha, Châu Âu (Tây Ban Nha, Ý, Pháp, Hy Lap) 95.000 ha, Nhật Bản 13.000 ha và Hàn Quốc 11.000 ha 56] Đây là một trong những nông sản quan trọng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, tuy nhiên dưa lưới cũng có thê phát triển ở vùng ôn đới. Các vùng xuất khâu chủ yếu. là vùng Địa Trung Hai, My, Mexico, Uc, Dai Loan va Nhật Bản.
Ở Châu Phi dưa lưới là loại hoa màu xa xi, diện tích trồng dưa lưới phục vụ xuất khâu Cameroon là 3500. ha, Sudan 1200 ha. Senegal và các vùng lân cận xuất khâu dưa cho Châu Âu suốt mùa. Ở Sudan, dưa lưới là loại nông sản quan trọng được trồng phục vụ nhu cầu sử dụng trong gia đình và thương mại.
Diện tích gieo trồng khoảng 4000 ha với sản lượng. Tình hình sản xuất cây dưa lưới ở Việt Nam Ở Việt Nam trong những năm gần đây, dưa lưới là một sản phẩm nông nghiệp cao cấp, được người tiêu dùng ưa thích bởi chất lượng của nó. Tại miền Nam, dưa lưới được du nhập và trồng nhiều tại thành phố Hồ Chí Minh từ 2010, tuy nhiên chủ yếu phục vụ cung cấp nội bộ và bắt đầu được sản xuất tại Đà Nẵng, do Trung tâm Khuyến ngư nông lâm thành phố Đà Nẵng du nhập và trồng thử nghiệm tại huyện Hòa Vang từ năm 2017. Tình hình nghiên cứu về cây dưa lưới trên thế giới và Việt Nam 1.
Trên thế giới “Trên thể giới, nhiều công trình nghiên cứu về cây dưa lưới đã công bố. đã đưa ra khuyến cáo về nồng độ các nguyên tố chính trong dung dịch dinh dưỡng tưới nhỏ giọt đối với dưa lưới gồm có N : 168ppm, P : 39ppm, K : 235ppm, Ca : I80ppm, Mg : 25ppm [20] ~ Năm 1995, Ismail, M. trồng dưa lưới trên giá thể phối trộn giữa than bùn và cát (theo tỉ lệ 3:1) với sức chứa nước lần lượt là 25, 50, 100 và 166 %. Lượng nước bồ sung cho giá thể tương ứng là 300, 600, 1200 và 2000 ml/ngày.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự sinh trưởng dinh dưỡng và năng suất giảm theo lượng. 7 nước tưới; đạt cao nhất khi tưới 2000 mi/ngày. Hàm lượng chất rắn hòa tan trong quả tăng một cách rõ rệt khi giảm lượng nước tưới [27] - Năm 1998, Maynard, E. da tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách tròng đến năng suất của dưa lưới Superstar (Cucumis melo L.
Két qua cho thấy năng suất và số quả / hecta tăng khi mật độ cây tăng từ 3. cho rằng với tổng khối lượng nước được áp dụng tưới nhỏ giọt cho dưa lưới dao động từ 307 đến 410 mm có thể thu được năng suất vượt quá 40 tấn/ ha. (với điều kiện ở giai đoạn tạo trái không bị khủng hoảng nước, đặc biệt là giai đoạn đầu của nó), quả thu được sẽ khá giảu hàm lượng đường [22] ~ Năm 1999, kết quả nghiên cứu của Hartz H. va Mullen RJ.
cho thấy tổng lượng nước tưới nhỏ giọt cho dưa lưới tương ứng là 530 và 490 mm, dung dịch phân bón với tỷ lệ N:P:K là 5:3:8 và vi chất dinh dưỡng, tắt cả được hòa tan vào. nước rồi bón cho cây thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt, tổng lượng phân N khoảng. Staub nghiên cứu thử nghiệm 3 giống dưa lưới Birdsnest 1, Birdsnest 2, Mission trồng với khoảng cách giữa các cây trong hàng là 35 em (72.600 cây/ha) va 70 em (36.300 cây/ha), trong đó khoảng cách giữa các hàng có định 210 em. Kết quả cho thấy, giống dưa Birdsnest 1, Mission có trọng lượng quả, năng suất cũng như độ đường cao hơn giống Birdsnest 2.
Khoảng cách giữa các cây trong hàng ảnh hưởng đến hầu hết các đặc điểm sinh trưởng của cây, ngoại trừ số cảnh chính và độ đường của quả. Số quả, năng suất trên cây và trọng lượng trung bình quả càng cao khi khoảng cách càng rộng, tuy nhiên năng suất (tắn/ha) và số quả trên mỗi ha càng thấp [31]. ~ Năm 2002, nghiên cứu của Nerson, H. cho thấy mật độ cho sản lượng quả cao.
nhất đối với 2 giống dưa lưới tự thụ phấn Noy Yizre'el và TopMark là 2-4 cây/mẺ. Tuy nhiên, cây trồng ở mật d6 8-12 cdy/m* lai cho năng suất hạt cao nhát [35] ~ Năm 2005, Lawson, V. đã trồng thí nghiệm 2 giống dưa lưới Aphrodite và Eclipse cho thấy mật độ tốt nhất tương ứng cho mỗi giống là 3.556 cây/mẫu Anh và 7.112 cây/mẫu Anh [32] ~ Năm 2006, Garcia, J. Rodriguez và Lugo 1.
gieo trồng một số 8 giống dưa lưới với khoảng cách giữa các cây là 40 và 60 cm, năng suất cao nhất (36.750 kg/ha) đối với giống Packstar ở khoảng cách 40 em, tất cả các giống còn lại đều đạt năng suất cao nhất tại khoảng cách 40 cm [24]. và Rashidi, M đưa ra nhận xét là phương pháp tưới có ảnh hưởng đến năng suất của dưa lưới. Khối lượng và độ dày thịt của quả cao nhất khi cây được tưới nhỏ giọt kết hợp với màng phủ và thấp nhát khi tưới theo cách thủ công. Ảnh hưởng của phương pháp tưới đến năng suất sẽ giảm tương ứng là tưới nhỏ giọt + màng phủ — tưới nhỏ giọt — tưới thủ công [41] Sensoy, S.
Gedik và Kucukyumuk C. đã thử nghiệm hai khoảng thời gian tưới (II = 6 ngày, I2 = 12 ngày) với hai hệ số bốc thoát hơi nước (K¿pl = 0,60; K,y2 = 0,90) trên cây dưa lưới. Kết quả cho thấy, tông lượng nước tưới dao động. từ 405-549 mm, lượng nước cây hấp thụ là 481-637 mm, năng suất đạt từ 18,0-32,4 tắn/ha.
Năng suất dưa đạt cao nhất là ở khoảng thời gian tưới là 6 ngày, với hệ số bốc thoát hơi nước là 0,90 (IIK,,2) [40] - Nam 2009, Mousavi, S. Farkhondeh và Feizi M. đã thí nghiệm trồng dưa lưới tại vùng có lượng nước mưa hàng năm thấp, lượng nước bốc thoát hơi cao, đất nhiễm mặn và nước sạch bị hạn chế. Các nghiệm thức nước tưới bao gồm T65, T80, T95 (tưới 65, 80 và 95 % lượng nước bốc hơi từ chậu).
Kết quả cho thấy T65 và T80 làm giảm năng suất quả tươi, số quả, trọng lượng quả trên cây và hiệu quả sử dụng nước. Năng suất quả tươi đạt 31,73; 38,48 và 54.34 tắn/ha và hiệu quả sử dụng nước là 10,58, 11,25 và 14,16 kg/m` ở T65, T80 và T95 [34] Theo tai ligu cia Ban, D. Novak (2011) cho thay khi trồng dưa lưới trong nhà kính tại Thỏ Nhĩ Kỳ cho thấy việc thay đổi hàm lượng K;O ở các mức 200, 400, 600 ppm không làm ảnh hưởng đến năng suất. Tuy nhiên, số quả và độ chắc của quả ở công thức bón 400, 600 ppm cao hơn công thức còn lại.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng để tác động lên năng suất không cần thiết phải sử dụng. K;O vượt qua mức 300 ppm. Thế nhưng với mục tiêu cải thiện chất lượng quả có thẻ tăng hàm lượng KạO lên tới 600 ppm mà không làm ảnh hưởng đến năng suất.