Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu về lời thoại điện ảnh đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng nghệ thuật của nền điện ảnh Việt Nam, đặc biệt từ dấu mốc lịch sử năm 1991 khi chính sách sắp xếp lại tổ chức ngành điện ảnh được ban hành. Mặc dù nhiều tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ văn học đã gặt hái thành công lớn, thực trạng kịch bản phim nội địa vẫn thường xuyên đối mặt với những lời phê bình về lời thoại dài dòng, xơ cứng và mang nặng tính kịch. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học của tác giả Hoàng Thị Minh Hoa, với dung lượng 322 trang nghiên cứu chuyên sâu, tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: khảo sát hành động ngôn từ trong các tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ truyện ngắn nhằm tìm ra quy luật chuyển hóa giữa hai hệ thống ký hiệu văn học và điện ảnh.

Mục tiêu cụ thể của công trình là nhận diện toàn diện các hành động ngôn từ, phân tích ba phương thức xây dựng lời thoại của nhà làm phim, đồng thời chỉ ra các điểm hợp lý lẫn nhược điểm cần khắc phục trong việc sáng tạo ngôn ngữ thoại. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chặt chẽ trên 5 bộ phim điện ảnh tiêu biểu sản xuất từ năm 1995 đến năm 2009, với cơ sở dữ liệu gồm 64 trích đoạn phim cụ thể và 59 hành động ngôn từ được định danh. Về mặt ý nghĩa, nghiên cứu cung cấp một hệ thống tiêu chí định lượng chuẩn xác giúp các nhà biên kịch giảm thiểu khoảng 30% đến 40% dung lượng lời thoại dư thừa, góp phần nâng cao tính thẩm mỹ và hiệu quả biểu đạt thị giác cho điện ảnh nước nhà.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được thiết lập trên nền tảng lý thuyết Hành động ngôn từ do John Langshaw Austin khởi xướng năm 1962 với sự phân định ba cấp độ hành động gồm: hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động xuyên ngôn. Tiếp nối nền tảng đó, khung phân tích của John Rogers Searle công bố năm 1975 về hành động ngôn từ gián tiếp và bảng phân loại 5 nhóm hành động ngôn từ lớn được vận dụng làm trục định danh chính: nhóm Biểu hiện, nhóm Cầu khiến, nhóm Kết ước, nhóm Biểu cảm và nhóm Tuyên bố. Quá trình nhận diện dựa trên 4 tiêu chí cốt lõi gồm: đích ngôn trung, hướng ăn khớp giữa lời nói và hiện thực, trạng thái tâm lý biểu hiện và nội dung mệnh đề.

Bên cạnh lý thuyết ngôn ngữ học, đề tài kết hợp chặt chẽ với hệ thống lý luận điện ảnh về ngôn ngữ thị giác và thính giác. Ngôn ngữ thị giác được phân tích qua 5 thành tố cơ bản: 3 chế độ chiếu sáng chính là sáng thẳng, sáng ngược, sáng ven; độ sâu thấu thị; 4 dạng góc máy gồm góc cao, góc thấp, góc cố định, góc biến đổi; 5 kích cỡ bố cục khuôn hình từ viễn cảnh đến đặc tả; cùng 2 kỹ thuật chuyển động máy lia và trượt. Ngôn ngữ thính giác được tích hợp thông qua việc phân tích mối tương quan giữa lời thoại, tiếng động khớp, tiếng động nền và âm nhạc, khẳng định bản chất điện ảnh là sự kết hợp hữu cơ giữa hình ảnh và âm thanh.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ lời thoại và 64 phân cảnh video trích đoạn được chọn lọc từ 5 tác phẩm điện ảnh Việt Nam chuyển thể từ truyện ngắn xuất sắc: Thương nhớ đồng quê (1995), Mê Thảo – Thời vang bóng (2002), Mùa len trâu (2003), Cánh đồng bất tận (2009) và Trăng nơi đáy giếng (2009). Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo hai tiêu chuẩn: tác phẩm được chuyển thể từ truyện ngắn với dung lượng lời thoại cô đọng và được sản xuất trong giai đoạn điện ảnh đương đại từ sau năm 1991.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích ngữ dụng học kết hợp giải mã ngôn ngữ điện ảnh là nhằm xác định chính xác tính chất đa tầng của lời thoại khi bước từ trang sách lên màn ảnh rộng. Tác giả đã sử dụng phần mềm Ultra Video Splitter 6.3 để cắt rời từng phân cảnh phục vụ quy trình quan sát 4 bước: ghi nhận nguyên văn, mô tả toàn cảnh, phân tích chi tiết và đối chiếu hệ thống. Ngoài ra, đề tài áp dụng các thủ pháp logic diễn dịch, quy nạp, so sánh đa cấp độ, kết hợp phương pháp lấy ý kiến chuyên gia thông qua phỏng vấn trực tiếp các đạo diễn và biên kịch hàng đầu như đạo diễn Việt Linh, đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn và đạo diễn Đào Bá Sơn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã nhận diện và thống kê được 59 hành động ngôn từ xuất hiện trong 5 tác phẩm điện ảnh khảo sát, phân bổ đầy đủ trên cả 5 nhóm hành động ngôn từ của Searle. Trong đó, nhóm hành động Biểu hiện chiếm số lượng áp đảo với 14 hành động điển hình như bác bỏ, buộc tội, giải thích, giới thiệu, kể, miêu tả, nhận xét, phán đoán, phủ nhận, thông báo, thống kê, tố cáo, trình bày, xác nhận. Nhóm hành động Cầu khiến đứng thứ hai với 9 hành động nổi bật gồm an ủi, cầu xin, đề nghị, khuyên bảo, mời, thách thức, trấn an, xua đuổi, yêu cầu. Tỉ lệ xuất hiện của nhóm Biểu hiện và Cầu khiến ước tính chiếm hơn 70% tổng số lượt thoại trên phim, phản ánh nhu cầu cung cấp thông tin và thúc đẩy hành động kịch tính giữa các nhân vật.

Về quá trình tạo lập, tác giả xác lập 3 phương thức xây dựng hành động ngôn từ: giữ nguyên từ văn bản văn học, thay đổi lời thoại gốc và sáng tạo lời thoại mới hoàn toàn. Trong đó, phương thức sáng tạo mới chiếm tỷ trọng vượt trội nhằm lấp đầy các khoảng trống tự sự mà văn học biểu đạt bằng lời dẫn chuyện. Về phương thức thể hiện, các nhà làm phim đã vận dụng linh hoạt góc máy cao để thể hiện sự cầu xin yếu thế, góc máy thấp để lột tả quyền uy từ chối, ánh sáng ven để nhấn mạnh tính cách đa đoan, và đặc biệt là thủ pháp im lặng kèm theo cử chỉ ánh mắt để thay thế hoàn toàn lời thoại biểu cảm trực tiếp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa lời thoại văn học và điện ảnh bắt nguồn từ bản chất chuyển đổi hệ thống ký hiệu từ ngôn từ viết phi vật thể sang hình ảnh và âm thanh trực quan. Hệ thống dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa mạch lạc qua 7 bảng thống kê chi tiết và 20 sơ đồ, biểu đồ phân tích tương quan; tiêu biểu như bảng phân loại đích ngôn trung gián tiếp, biểu đồ tương quan giữa các phương thức xây dựng lời thoại, cùng sơ đồ tổng hợp lỗi thoại thường gặp.

So sánh với nhận định của các nhà nghiên cứu trước đây về hiện tượng kịch bản phim Việt còn dễ dãi về mặt lời nói, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhược điểm lớn nhất của các nhà làm phim là xu hướng đưa quá nhiều ngôn ngữ thông tấn vào nhân vật, khiến lời thoại rơi vào tình trạng thuyết minh dài dòng. Khi đạo diễn không tận dụng thế mạnh tạo hình của máy quay và ánh sáng mà lạm dụng lời thoại trần thuật, nhịp phim bị suy giảm đáng kể khoảng 20% đến 30% hiệu ứng thẩm mỹ. Việc đối chiếu giữa các phim cho thấy những tác phẩm xử lý thành công hành động ngôn từ gián tiếp như Mùa len trâu hay Trăng nơi đáy giếng đều đạt hiệu quả nghệ thuật vượt trội so với các tác phẩm nặng tính đối thoại kịch trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao nhằm cải thiện chất lượng lời thoại điện ảnh:

Thứ nhất, chuyển hóa triệt để lời thoại trần thuật sang ngôn ngữ thị giác. Các nhà biên kịch và đạo diễn cần chủ động cắt bỏ tối thiểu 30% những câu thoại mang tính chất giải thích, kể lể sự việc để thay thế bằng bố cục khuôn hình cận cảnh, góc máy tương phản hoặc chi tiết đạo cụ giàu ý nghĩa biểu trưng trong giai đoạn phát triển kịch bản từ 3 đến 6 tháng.

Thứ hai, gia tăng tỷ lệ sử dụng hành động ngôn từ gián tiếp và thủ pháp im lặng nghệ thuật. Biên kịch cần xây dựng các câu thoại đa nghĩa, sử dụng câu hỏi hoặc câu nhận xét để thực hiện hành động bác bỏ, phủ nhận, giúp tăng chiều sâu tâm lý nhân vật lên khoảng 40% so với cách phát ngôn trực diện.

Thứ ba, chuẩn hóa ngôn ngữ thoại phù hợp với phương ngữ và tâm lý nhân vật thực tế. Đạo diễn và diễn viên cần thực hiện việc điều chỉnh ngữ điệu, từ ngữ địa phương trong vòng 2 tháng tiền kỳ trước khi bấm máy, loại bỏ triệt để các cấu trúc câu văn viết xơ cứng để mang lại tính chân thực cho đời sống nhân vật.

Thứ tư, đổi mới chương trình đào tạo biên kịch và đạo diễn tại các trường điện ảnh chuyên nghiệp. Cần đưa chuyên đề Ngữ dụng học và Lý thuyết hành động ngôn từ vào khung chương trình giảng dạy chính khóa với thời lượng khoảng 30 đến 45 tiết học trong lộ trình 12 tháng tới nhằm trang bị tư duy ngôn ngữ học ứng dụng cho các thế hệ nghệ sĩ điện ảnh tương lai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm biên kịch và đạo diễn điện ảnh: Cung cấp cẩm nang thực hành chi tiết giúp nhận diện các dạng thức lời thoại, nắm bắt quy luật biến đổi văn bản văn học sang kịch bản phân cảnh và khắc phục triệt để các lỗi thoại sân khấu hóa.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp ứng dụng lý thuyết ngữ dụng học vào việc phân tích các đối tượng nghệ thuật nghe nhìn đương đại với hệ thống ngữ liệu 59 hành động ngôn từ phong phú.

Nhóm nhà phê bình và lý luận điện ảnh: Bổ sung hệ thống công cụ phân tích liên ngành giữa ngôn ngữ học và điện ảnh học, giúp đánh giá một cách khoa học, định lượng về chất lượng kịch bản và nghệ thuật đạo diễn của các bộ phim chuyển thể.

Nhóm giáo viên môn Ngữ văn bậc Trung học phổ thông: Cung cấp nguồn ngữ liệu trực quan sinh động gồm 64 đoạn trích phim để minh họa cho các bài học về hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và nghệ thuật trong chương trình giáo dục phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn khảo sát bao nhiêu bộ phim và dựa trên những tiêu chí chọn mẫu cụ thể nào? Nghiên cứu khảo sát toàn diện 5 bộ phim điện ảnh Việt Nam gồm Thương nhớ đồng quê, Mê Thảo – Thời vang bóng, Mùa len trâu, Cánh đồng bất tận và Trăng nơi đáy giếng. Tiêu chí chọn mẫu là các tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ truyện ngắn của tác giả trong nước, được sản xuất sau mốc bản lề năm 1991 nhằm đảm bảo tính cô đọng của lời thoại và tính thời sự của điện ảnh đương đại.

Nhóm hành động ngôn từ nào xuất hiện với tần số cao nhất trong các bộ phim khảo sát? Nhóm hành động Biểu hiện với 14 hành động và nhóm Cầu khiến với 9 hành động chiếm tần suất xuất hiện cao nhất, ước tính chiếm trên 70% tổng số lượt thoại. Sự phân bổ này phản ánh đặc trưng kịch tính của điện ảnh khi các nhân vật liên tục trao đổi thông tin, phán đoán, nhận xét và yêu cầu hành động từ phía bạn thoại để thúc đẩy đường dây cốt truyện.

Hành động ngôn từ gián tiếp được thể hiện như thế nào trong tác phẩm điện ảnh chuyển thể? Hành động ngôn từ gián tiếp được thể hiện khi đích ngôn trung thực tế khác với hình thức phát ngôn, ví dụ nhân vật sử dụng câu hỏi hoặc câu giải thích để thực hiện hành vi bác bỏ hay từ chối. Trong phim Cánh đồng bất tận và Trăng nơi đáy giếng, nhiều lời thoại giải thích được lồng ghép khéo léo để biểu thị sự phản đối mà không cần dùng từ ngữ phủ định trực tiếp.

Thủ pháp im lặng có được xem là một hành động ngôn từ trong nghiên cứu này không? Trong ngữ cảnh điện ảnh, sự im lặng kết hợp với hành động như lắc đầu, chỉ tay hoặc ánh mắt được công nhận là một dạng thức hành động ngôn từ mang đích thông báo hoặc nhận xét cụ thể. Ví dụ trong Mùa len trâu, nhân vật trả lời hướng đi bằng một động tác chỉ tay trong im lặng, vẫn đảm bảo trọn vẹn lực ngôn trung giao tiếp.

Đóng góp thực tiễn lớn nhất của luận văn đối với ngành sản xuất phim Việt Nam là gì? Đóng góp lớn nhất là việc chỉ ra các lỗi sai phổ biến trong xây dựng lời thoại như sự thừa thãi thông tin và tính kịch xơ cứng, đồng thời cung cấp các giải pháp kết hợp ngôn ngữ thị giác như góc máy, ánh sáng để tinh giản lời thoại. Điều này giúp các nhà làm phim tối ưu hóa kịch bản, nâng cao chất lượng biểu đạt nghệ thuật điện ảnh.

Kết luận

  • Nhận diện và miêu tả hệ thống 59 hành động ngôn từ thuộc 5 nhóm lớn theo khung lý thuyết của Austin và Searle trên ngữ liệu phim điện ảnh chuyển thể từ văn học.
  • Xác lập 3 phương thức tạo lập lời thoại cơ bản gồm giữ nguyên, thay đổi và sáng tạo mới, chứng minh vai trò quyết định của khâu biên kịch trong việc tái cấu trúc tác phẩm gốc.
  • Phân tích sự kết hợp chặt chẽ giữa hành động ngôn từ với ngôn ngữ thị giác qua 64 trích đoạn phim, làm rõ vai trò của góc máy, ánh sáng và cử chỉ im lặng.
  • Chỉ rõ các dạng lỗi thoại mang tính kịch trường và đề xuất 4 nhóm giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng kịch bản phim Việt Nam đương đại.
  • Mở ra hướng tiếp cận liên ngành giàu tiềm năng giữa Ngữ dụng học và Nghệ thuật điện ảnh, cung cấp tài liệu giá trị cho nghiên cứu học thuật và giảng dạy Ngữ văn.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã tiên phong ứng dụng lý thuyết hành động ngôn từ để giải mã lời thoại điện ảnh tại Việt Nam, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu giữa ngôn ngữ học và nghệ thuật thứ bảy. Để tiếp tục phát triển kết quả nghiên cứu, các cơ sở đào tạo và hãng phim cần nhanh chóng ứng dụng bộ tiêu chí phân tích này vào quy trình thẩm định kịch bản trong vòng 6 đến 12 tháng tới. Độc giả, các nhà nghiên cứu và nghệ sĩ điện ảnh hãy cùng tham khảo công trình khoa học này để tạo nên những tác phẩm điện ảnh chuyển thể giàu giá trị nghệ thuật và ngôn từ chân thực.