Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản về bệnh Lao và chi phí điều trị 1.1 Khái niệm cơ bản về bệnh Lao * Tổng số bệnh nhân Lao: Là số bệnh nhân Lao được quản lý tại một thời điểm hay kết thúc một cuộc điều tra thông thường vào ngày 31/12 hàng năm, chỉ số này tính trên 100. Chỉ số này bao gồm các loại: Tổng số bệnh nhân Lao các thể. Tổng số bệnh nhân Lao phổi.
Tổng số bệnh nhân Lao ngoài phổi. * Số tử vong do Lao: Là số tử vong ở những bệnh nhân Lao được điều trị tính trong một năm và trên 100. * Chỉ số Lao mới: Là số bệnh nhân Lao mới được phát hiện trong 1 năm bao gồm: Lao phổi AFB (+) mới: ký hiệu là IM (+) (Incidence of Mycobacteria). Lao phổi nuôi cấy có vi khuẩn Lao phổi AFB (-) Lao ngoài phổi Chỉ số Lao mới là số bệnh nhân Lao mới được phát hiện trong 1 năm đó là Lao phổi mới AFB (+).
Đây là chỉ số quan trọng nhất vì nó cho biết mức độ và xu hướng diễn biến của bệnh Lao. Cụ thể khi chỉ số Lao phổi mới AFB (+) là 100/100.000 dân sẽ cho biết bệnh Lao lưu hành nặng nề. Khi chỉ số Lao phổi mới AFB (+) là 25-100/100.000 dân cho biết bệnh Lao lưu hành ít nặng nề và chỉ số Lao phổi mới AFB (+) là < 25/100.000 dân là bệnh Lao lưu hành thấp. * Nguy cơ nhiễm Lao hàng năm: ARTI (Annual Risk Tuberculosis Infection) Định nghĩa: Là khả năng một người khỏe mạnh có thể bị nhiễm lao mới hoặc tái nhiễm lao trong khoảng thời gian 1 năm.
c 4 Được ước tính dựa trên tỷ lệ nhiễm lao qua điều tra nhiễm lao trẻ em. Tỷ lệ ARTI được tính như sau: ARTI ( R) = 1-(1-P) 1/A Trong đó: R : là nguy cơ nhiễm Lao hàng năm P : Tỷ lệ nhiễm lao của quần thể A : Tuổi trung bình của quần thể được điều tra Ý nghĩa: Đánh giá gián tiếp tình hình bệnh Lao và xu hướng dịch tễ của bệnh Lao. Khi so sánh kết quả nguy cơ nhiễm Lao ở các giai đoạn khác nhau có thể cho biết xu hướng dịch tễ Lao tăng hay giảm. Trong một thời gian dài, chỉ số này được coi là chỉ số tin cậy để ước tính tỷ lệ mới mắc Lao trong cộng đồng; R=1% tương đương với tỷ lệ người bệnh Lao phổi có vi khuẩn Lao trong đờm (AFB+) mới mắc hàng năm là 50/100.
Tuy nhiên hiện nay chỉ số này bị tác động bởi nhiều yếu tố, nên độ tin cậy để dùng cho ước tính số bệnh nhân Lao không được đánh giá cao. Chỉ số này thu được sau khi điều tra thử test Tuberculine cho một nhóm tuổi trẻ em không được tiêm chủng BCG. ARTI được xem là phản ánh dịch tễ Lao một cách khách quan và chính xác nhất. Từ ARTI người ta có thể ước tính được số Lao phổi mới AFB (+) hàng năm.
Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) khi ARTI là 1% thì IM (+) = 50AFB (+)/100000 dân. Dựa vào chỉ số này người ta có thể ước tính được tình hình bệnh Lao ở từng khu vực cũng như trên toàn thế giới. * Chỉ số giảm nguy cơ nhiếm Lao hàng năm: Khi xác định được chỉ số R ở các thời điểm khác nhau (thường từ 5-10 năm), có thể áp dụng công thức tính mức độ giảm nguy cơ nhiếm lao: A=1-(Rt/Ro)1/t. A: Là chỉ số giảm nguy cơ nhiếm Lao hàng năm t: Là khoảng cách giữa 2 lần nghiên cứu điểu tra nguy cơ nhiếm lao c 5 Ro: Chỉ số nguy cơ nhiếm Lao của lần điều tra trước Rt: Chỉ số nguy cơ nhiếm Lao của lần điều tra ở năm “t”.
Tại các nước phát triển, điều kiện kinh tế xã hội tốt, chỉ số A giảm nhiều >5% mỗi năm. * Chỉ số Lao màng não: Đây là chỉ số dịch tễ có giá trị để xác định công tác phát hiện nguồn lây và điều trị tới nguy cơ nhiễm Lao và hiệu quả bảo vệ của BCG. Ngoài ra còn một số các chỉ số Lao khác góp phần đánh giá đầy đủ tình hình dịch tễ Lao: - Chỉ số Lao tái phát - Chỉ số Lao thất bại hóa trị liệu - Chỉ số Lao kháng thuốc - Chỉ số Lao phối hợp với HIV/AIDS * Một số hoạt động cơ bản trong phòng chống Lao - Hoạt động phát hiện Lao: Phát hiện Lao là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CTCLQG. Các phương pháp phát hiện bao gồm: Soi đờm trực tiếp, nuôi cấy, chụp X quang, PCR (Polymerase Chain Reaction), kỹ thuật “dấu vân tay”.
- Hoạt động truyền thông và huy động xã hội: Nhằn nâng cao hiểu biết về bệnh Lao của cộng đồng, hướng cộng đồng tới những hành vi liên quan tới bệnh Lao có lợi ích cho sức khỏe góp phần cho thành công của chương trình chống Lao. Huy động nguồn lực của các đối tác để tăng cường nguồn lực cho chương trình chống Lao. - Hoạt động quản lý điều trị Lao: Hiện nay áp dụng các phác đồ điều trị theo hướng dẫn của TCYTTG và Bộ Y tế. Việc điều trị từng bước chuyển dần c 6 sang sử dụng phác đồ 6 tháng thay cho phác đồ 8 tháng hiện nay và áp dụng phác đồ ngắn hạn hơn theo khuyến cáo của TCYTTG.
Thông thường bệnh nhân sẽ điều trị 2 tháng tấn công tại bệnh viện và giai đoạn duy trì sẽ điều trị tại các trạm y tế xã. Các khái niệm liên quan đến chi phí điều trị 1.1 Khái niệm về chi phí Chi phí là giá trị, hàng hóa, dịch vụ được xác định thông qua việc sử dụng nguồn lực theo các cách khác nhau. Trong chăm sóc sức khỏe, chi phí để tạo ra một dịch vụ y tế cụ thể hoặc một loạt các dịch vụ y tế là giá trị của nguồn lực được sử dụng để tạo ra các dịch vụ y tế đó [45]. Chi phí thường được thể hiện dưới dạng tiền tệ song chi phí không có nghĩa là giá cả mà chỉ thể hiện nguồn lực thực được sử dụng.
Chi phí gồm có chi phí kinh tế và chi phí cơ hội: - Chi phí kinh tế là giá trị tất cả các nguồn lực kế toán và phi kế toán. - Chi phí cơ hội của một hoạt động là thu nhập mất đi do sử dụng nguồn lực cho hoạt động này hơn là hoạt động khác [45]. Phân loại chi phí Có nhiều cách để phân loại chi phí khác nhau, việc lựa chọn cách phân loại nào là phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu. Trong một nghiên cứu cũng có thể kết hợp nhiều cách phân loại khác nhau, tuy nhiên với mỗi cách phân loại đều phải đảm bảo 3 yêu cầu sau: - Sự phân loại chi phí phải phù hợp với tình huống cụ thể - Sự phân loại chi phí mà được lựa chọn phải bao phủ toàn bộ các khả năng có thể có được - Sự phân loại không được chồng chéo [45].
c 7 * Các cách phân loại chi phí STT Cách phân loại Nội dung Phân loại theo đầu vào Chi phí vốn 1 Chi phí thường xuyên Phân loại theo nguồn Chi phí trực tiếp 2 gốc chi tiêu Chi phí gián tiếp Phân loại theo hoạt động Chi phí đào tạo 3 chức năng Chi phí giám sát Chi phí quản lý Phân loại theo cấp Chi phí cấp tỉnh 4 Chi phí cấp huyện Phân loại theo nguồn Bảo hiểm y tế Nhà nước cấp 5 kinh phí Nguồn viện trợ Phân loại theo góc độ Chi phí từ phía người cung cấp dịch vụ 6 Chi phí từ phía người sử dụng dịch vụ người chịu chi phí 1.3 Phân tích chi phí Phân tích chi phí là một trong những phương pháp đánh giá kinh tế và là một công cụ nghiên cứu quan trọng trong kinh tế học, quan tâm đến sự phân bổ chi phí trong chăm sóc sứckhỏe.4 Nguyên tắc tính chi phí trong phân tích chi phí - Tính đủ chi phí - Không bỏ sót cũng như không tính hai lần - Tính chi phí của một năm - Tính giá trị hiện tại của chi phí Nếu không thể tính tất cả các loại chi phí thì tính các mục chi phí lớn trước 1.5 Các bước phân tích chi phí Bước 1: Thiết kế nghiên cứu c 8 Bước 2: Xác định các chi phí cần tính toán Bước 3: Đo lường các chi phí Bước 4: Tính toán, phân tích các chỉ số chi phí cần quan tâm 1.6 Phương pháp phân tích chi phí cung cấp dịch vụ y tế Chi phí do mắc bệnh là giá trị của nguồn lực mà đã sử dụng hoặc mất đi do mắc bệnh. Phân tích chi phí do mắc bệnh là công cụ để đánh giá đầy đủ nguồn lực cho một vấn đề sức khỏe, cung cấp thông tin về gánh nặng kinh tế các vấn đề sức khỏe khác nhau đồng thời cung cấp ước tính bằng tiền gánh nặng kinh tế của bệnh tật. * Mục đích tính chi phí do bệnh tật - Cung cấp ước tính bằng tiền gánh nặng kinh tế của bệnh tật: - Ước tính ảnh hưởng kinh tế của các vấn đề sức khỏe khác nhau, từ đó ước tính khoản kinh phí cần cho các chương trình của Chính phủ. - Trả lời được câu hỏi: “ chương trình các đáng giá hay không?” và giúp ước tính: + Chi phí can thiệp là bao nhiêu? + Chi phí cho một bệnh nhân trước can thiệp là bao nhiêu? + Chi phí cho bệnh nhân đó sau chương trình can thiệp là bao nhiêu? * Cách tính chi phí cho người sử dụng dịch vụ y tế Người ta thường sử dụng cách tính chi phí theo nguồn gốc chi tiêu.
Phương pháp này phân chia chi phí thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Trong chi phí trực tiếp có chi phí trực tiếp cho điều trị và không cho điều trị. Cách phân loại đó được thể hiện như sau: Chi phí trực tiếp: Gồm có chi phí trực tiếp cho điều trị, ví dụ như chi phí nằm viện, chi cho thuốc, chi làm xét nghiệm và chi phí trực tiếp không cho điều trị, ví dụ như ăn uống, đi lại. Chi phí gián tiếp: Thu nhập mất đi do phải nghỉ việc hoặc do mất khả năng Lao động.2 Tình hình phòng chống Lao trên thế giới và Việt Nam 1.