CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE THUE GIA TRI GIA TANG 1.1-Lịch sử hình thành và phát triển thuế giá trị gia tăng 1.1-Sự ra đời của thuế giá trị gia tăng 1.1-Trên thế giới Thuế giá trị gia tảng (GTGT) có tên gọi theo tiếng Pháp ''TAXE SURLAVALEUR AJOUTE” (TVA) hay theo tiéng Anh la “VALUE ADDED TAX “ (VAT) VAT c6 nguồn gốc từ thuế doanh thu, được nghiên cứu và để xuất do một người Đức có tên là Carl Friedrich Von Simens vào năm 1915 , nhằm khắc phục sự chỗng chéo của thuế doanh thu. Tuy vậy Von Siemens không thuyết phục được Chính Phủ Đức áp dụng loại thuế này. Đến năm 1947 nó lại được để cập trong việc nghiên cứu cải tổ hệ thống thuế của nhà kinh tế Mỹ tên là CICAD, Đến năm 1933 ,ở Nhật người ta nghiên cứu và để xuất một bộ luât về thuế GTGT nhưng không được quốc hội thông qua .Năm 1954 Pháp là nước đầu tiên áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu ,do nước Pháp có hệ thống pháp luật trơng đối hoàn chỉnh, nên việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu đã mang lại thành công. Vào năm 1917 , Pháp đã bắt đầu áp dụng thuế doanh thuLúc đâu thuế chỉ đánh một lần vào giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa (khâu bán lẻ) với thuế suất rất thấp là 0.Sau đó, năm 1920 thuế doanh thu được đánh qua từng khâu của quá trình sản xuất, Qua thực tế trong thời gian ấp dụng thuế doanh thu đã phát sinh nhiên điển bất lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh , sản phẩm trãi qua nhiều khâu trung gian nên phải chịu thuế cao vì tình trạng thuế chồng lên thuế, Do vậy để khắc phục nhược điểm trên năm 1936 Pháp đâ cải tổ và quyết định lại hình thức thu thuế doanh thu bằng cách là thuế được thu một lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất „ nghĩa là sản phẩm hàng hoá được đưa vào lưu thông lần đầu ,Như vậy việc đánh thuế độc lập với độ dài của quá trình sản xuất ,khắc phục được việc đánh thuế trùng lắp trước đó.
Lúc này bắt đầu nảy sinh nhiều bất lợi mới trong việc thu thuế của nhà nước, thuế thu bị cham tré vi chi khi hàng hoá được đưa vào lưu thông lần đầu thì nhà nước mới thu được thuế .Năm 1948 thuế doanh thu lại được tiếp tục hoàn thiện trên cơ số đánh thuế vào từng công đoạn của quá trình sắn xuất và tính thuế đã nộp ở giai đoạn sau được trừ thuế ở giai đoạn trước. Lúc đầu thuế này chỉ áp to dụng đối với hoạt động sản xuất công nghiệp với duy nhất một mức thuế suất là 20% và chỉ cho khấu trừ thuế ở khâu trước đối với nguyên vật liệu ,Qua nhiều lần sửa đổi .bổ sung ,thuế GTGT được áp dụng đầu tiên vào ngày 01/07/1954 đối với một số ngành cá biệt và đến ngày 01/01/1968 thuế GTGT được áp dụng chính thức đối với ngành sản xuất, bán lẻ hàng hóa và cung ng dịch vụ. Quá trình thống nhất hóa Châu Âu được thúc đẩy vào những năm của thập kỷ 60 đã có tác dụng thuận lợi để thuế GTGT triển khai nhanh chóng ở các nước khác. Từ năm 1978 theo yêu cầu của các nước thành viên cộng đổng kinh tế Châu Âu (EEC) ,Pháp đã điều chỉnh lại luật tài chính trong đó có nội dung rất quan trọng nói về thuế GTGT.Năm 1986 thuế GTGT ở pháp được áp dụng rộng rãi đối với các ngành sẵn xuất ,lưu thông hàng hóa ,dịch vụ với bốn mức thuế suất khác nhau tùy theo ngành hàng cần khuyến khích hay hạn chế là 5.
Từ khí Pháp áp dụng thuế GTGT đã khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới ,thué GTGT thật sự là một sắc thuế tiên tiến và trở thành nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước của nhiều quốc gia trên thế giới.Thực tế cho thấy vào năm 1988 chỉ có 47 quốc gia áp dụng thuế GTGT thì đến tháng 7 nim 1991 có 56 nước chính thức ban hành thuế GTGT và hiện nay theo tài liệu của quỹ tiển tệ quốc tế (TMF) đã có trên 120 nước áp dụng thuế GTGT trong đó chủ yếu là các nước Châu Âu ,Châu Phi ,Châu Mỹ La Tinh và một số nước Châu Á. Riêng Châu Á thuế GTGT ngày càng trở thành sắc thuế phổ biến trong khu vực ,khởi đầu là Hàn Quốc (1977) rồi đến Inđonesia (1985) ,Đài Loan (1986), Philippm (1988) ,Thái Lan (1991) ,Trung Quốc Singapore (1994), 1.2-Ở Việt Nam Trước năm 1975 Chính quyền Sài Gòn có ban hành sắc thuế GTGT' đánh trên hàg hóa dịc vụ và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/27/1973 thay cho thuế sản xuất thuế xay lúa và thuế tiêu thụ nước đá. Đến năm 1990, trước nhu cầu đổi mới của nên kinh tế ,nên kinh tế Việt Nam đang chuyển từ nễn kinh tế bao cấp sang nên kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ,Việt Nam phải thực hiện đổi mới, cải tổ lại hệ thống thuế cho phù hợp .Đáp ứng yêu cầu đó ,ba luật thuế mới được ban hành đó là luật thuế doanh thu. thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế lợi tức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1991.
Đến năm 1975 ,với sự ra đời và phát triển của hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam chính thức là thành viên của hiệp hội ASEAN,trước yêu cầu phát triển mới trong xu thế hội nhập, đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục thực hiện cải cách hệ thống thuế , Tuy hệ thống thuế hiện hành đang được áp dụng một cách tích cực nhưng với nhược điểm của sắc thuế doanh thu đó là mang nhiều kẽ hở tạo ra cạnh tranh không lành mạnh , mang tính trùng lấp ,chưa thật sự khuyến khích sản xuất trong nước „ không làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế,mặc khác cơ chế đa thuế suất đã gây rất nhiễu khó khăn cho công tác quản lý, Việt Nam khó có được quan hệ về kinh tế rộng rãi với các nước trong khu vực ,do vậy đồi hỏi hệ thống thuế Việt Nam phải có những sửa đổi bổ sung cần thiết để phù hợp với thông lệ Quốc tế làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và đảm bảo nguôn thu cho ngân sách khí gia nhập khu mau dịch tự do „thực hiện chương trình ưu đãi thuế quan chung đối với các nước ASEAN ,cắt giấm thuế" suất thuế xuất nhập khẩu còn 0-5%.Mặc khác các nước trong khu vực đä thực hiện xong Luật thuế GTGT thay cho thuế doanh thu , do vậy đòi hỏi Việt Nam cũng phải nhanh chóng triển khai thực hiện. Trong năm này nhà nước đã thực hiện thí điểm thuế GTGT ở 11 doanh nghiệp thuộc một số ngành nghề như dệt, xi măng ,nhưng thất bại do phạm vi ảnh hưởng của thuế GTGT rất rộng .Đến năm 1997 ,Quốc hội thông qua ba luật thuế mới là luật thuế GTGT, lật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999, trong đề luật thuế GTGT thay thế cho luật thuế doanh thu ,còn hai luật thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập doanh nghiệp là hai luật thuế bổ sung ,sửa đổi từ thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế lợi tức trước đó, 1.2-Nguyên nhân của việc ban hành và áp dụng thuế GTGT: -Thuế GTGT được nhiễu nước áp dụng (phụ lục số) -Để thay cho các loại thuế doanh thu, chấm dứt hiện tượng miễn thuế chông chéo, tình trạng có nhiễu thuế suất gây khó khăn trong công tác quản lý, tăng trưởng mang tính không toàn diện. -Được hoàn thuế tại cửa khẩu của các liên minh Hải Quan -Nguén thu thuế ổn định cho phép tạo ra một cơ sở trả lương tốt, đặt biệt tại các nước có nguồn thu dựa chủ yếu vào các loại hàng hóa nguyên liệu thô, thường biến động mạnh( ví dụ :dầu mỏ). -Không gây biến dạng trong nền kinh tế với điểu kiện khi áp dụng thuế VAT không có nhiễu trường hợp miễn thuế, -Các loại thuế truyền thống trước đây bị công chúng phản đối.
-Cuộc cách mạng về máy vi tính đã làm thay đổi việc quản lý thuế VAT.đặc biệt đối với các cơ quan thuế nhỏ. Trong quá trình thực hiện luật thuế doanh thu ,những nhược điểm lớn nhất của thuế doanh thu là thuế đánh chỗng lên thuế và đánh thuế trùng lắp qua nhiều khâu của quá trình sản xuất ,lưu thông. Điều này làm cho thuế suất thực sự cao hơn nhiễu so với thuế suất do luật thuế ban hành. Bên cạnh đó thuế doanh thu không khuyến khích được xuất khẩu , mặc dù các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu không phải chịu thuế doanh thu , nhưng do họ không được hoàn thuế ở đầu vào nên thực tế họ đã chịu một phân thuế doanh thu .đông thời cũng đẩy giá cả cao hơn .do vậy làm giảm khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu.
Thuế doanh thu cô quá nhiều mức thuế suất nên việc tính thuế rất phức tạp, việc quản lý cũng gặp nhiều khó khăn .Với những nhược điểm trên thuế doanh thu khó có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay.1-Ưu điểm của thuế GTGT so với thuế đoanh thu: -Thuế GTGT thể hiện rõ hơn là loại thuế gián thu do người tiêu dùng chịu và không ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của cd sở kinh doanh, , -Thúc đẩy các cơ sở kinh doanh thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế „mua bán hành hóa có hoá đơn ,chứng từ. -Thuế GTGT có ít thuế suất hơn so với thuế doanh thu. Điều này hạn chế được sự phức tạp, tạo thuận tiện cho quá trình quần lý và thực hiện. -Thuế GTGT thuộc loại thuế có phạm vi đối tượng thu rất rộng nên mặt đù thuế suất không cao .Ít thuế suất nhưng van đảm bảo nguồn thu lớn cho NSNN -Thuế GTGT cho phép chống trốn lậu thuế có hiệu cao và tạo ra sự kiểm soát lấn nhau về thuế thông qua việc sử dụng hóa đơn chứng từ là căn cứ tính thuế, -Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu ,đầu tư và bảo hộ hàng sản xuất trong nước bằng việc áp dụng thuế suất ở mức ưu đài đối với hàng hóa.
dịch vụ xuất khẩu kèm với việc hoàn thuế và đánh thuế GTGT ngay ở khâu nhập khẩu. -Thuế GTGT tránh được hiện tượng đánh thuế trùng lắp nhờ phương thức chỉ tính thuế trên phần giá trị tăng thêm của đối tượng nộp thuế, 1.22-Các điều kiện cần thiết để áp dụng thuế GTGT có hiệu quả 1.