Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HỢP TÁC GIÁO DỤC, VĂN HÓA VIỆT NAM - THÁI LAN TRƯỚC NĂM 1986 1. Vài nét về cơ sở hình thành quan hệ hợp tác Việt Nam - Thái Lan 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Việt Nam và Thái Lan là hai nước láng giềng gần gũi cùng nằm trên bán đảo Trung Ấn và cùng thuộc Đông Nam Á lục địa. Việt Nam ở rìa cạnh phía Đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á, vùng đất Việt Nam gồm toàn bộ phần đất liền và các hải đảo có tổng diện tích là 331.212km2, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, Tây Nam giáp Campuchia, còn phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông và Thái Bình Dương.
Vương quốc Thái Lan nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, có tổng diện tích là 513.120 km2, phía Bắc giáp Lào và Mianma, phía Đông giáp Lào và Campuchia, phía Nam giáp vịnh Thái Lan và Malaysia, phía Tây giáp Myanma và biển Andaman. Mặc dù không cùng chung một dải biên giới trên đất liền nhưng Việt Nam và Thái Lan lại có chung một vùng biển không nhỏ. Cả hai nước đều nằm ở hạ nguồn của sông Mê Công: Lưu vực Mê Công thuộc Thái Lan rộng 170.000 km2, chiếm 22% diện tích toàn lưu vực và 1/3 diện tích của Thái Lan. Còn tại Việt Nam, lưu vực sông Mê Công chiếm 1/5 diện tích lãnh thổ và 9% tổng lưu vực sông [38, tr.
Sông Mê Công và đường biển ven bờ là những đường giao thông tự nhiên, thuận lợi cho việc đi lại, giao thương giữa hai nước. Đồng thời, cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để hình thành nên mối quan hệ về kinh tế và chính trị giữa hai quốc gia. Điều kiện tự nhiên: Việt Nam và Thái Lan đều có những điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên. 8 c Về địa hình: Cả hai nước tương đối giống nhau về kiến tạo địa lý, có độ dốc thoai thoải hướng ra phía biển.
Cũng giống Việt Nam, địa hình Thái Lan tương đối đa dạng gồm có đồi núi, đồng bằng, cao nguyên, sơn nguyên, trong đó chủ yếu là đồng bằng. Về khí hậu: Nằm trong vành đai nhiệt đới, khí hậu Việt Nam và Thái Lan về mặt tổng thể đều là nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và có hai mùa mưa, khô xen kẽ nhau trong năm. Về sông ngòi: Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc với khoảng 2360 con sông dài trên 10km, sông có nhiều nước, giàu lượng phù sa, tổng lượng nước là 839 tỉ m3/năm trong đó 60% lượng nước là từ phần lưu vực nằm ngoài lãnh thổ. Tổng lượng phù sa hàng năm của sông ngòi trên lãnh thổ nước ta là khoảng 200 triệu tấn [4, tr.
Trong khi đó, Thái Lan cũng có hệ thống sông ngòi chằng chịt, hai con sông lớn của Thái Lan là Chao phraya và sông Mê Công đem lại khả năng thủy nông và nguồn thủy lợi rất lớn. Về khoáng sản: Việt Nam và Thái Lan là hai nước giàu tiềm năng khoáng sản. Ở Việt Nam, khoáng sản được phân bố ở nhiều nơi, khá phong phú và đa dạng, tuy trữ lượng không lớn nhưng nhiều chủng loại: Than đá, than bùn, sắt, đồng, chì, bạc. Tài nguyên khoáng sản chủ yếu ở Thái Lan gồm có thiếc, vonfram, ga tự nhiên, tantalium, chì, thạch cao.
Sự tương đồng về các điều kiện tự nhiên đã đem lại những điểm tương đồng trong hệ sinh vật tự nhiên ở hai nước. Và thực tế, cả Việt Nam, Thái Lan đều có hệ sinh vật phát triển phong phú, đa dạng về chủng loại, số lượng và chất lượng. Kinh tế - văn hóa Việt Nam và Thái Lan đã có một quá trình giao lưu văn hóa khá sớm trong lịch sử. Bởi lẽ, hai quốc gia đều có cơ sở văn hóa và quá trình hình thành văn hóa với nhiều nét tương đồng.
9 c Trước hết, đặc thù của địa hình, khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác đã khiến cho cơ sở kinh tế của hai nước trước kia khá giống nhau. Đó là một cơ cấu kinh tế đa dạng gồm nông, lâm, ngư nghiệp với vai trò chủ đạo của nền kinh tế nông nghiệp lúa nước. Thêm vào đó, về thế giới quan và nhân sinh quan: Điều kiện tự nhiên và cơ sở kinh tế tương đồng đã tạo nên những điểm chung trong cách nhìn nhận, ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội. Đây chính là hai cơ sở nội sinh để tạo nên những nét tương đồng trong sắc thái văn hóa giữa hai nước.
Ngoài ra, với vị trí địa lý cùng nằm trên bán đảo Trung Ấn, Việt Nam và Thái Lan đều nằm trong khu vực giao thoa của văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ trên nền văn hóa bản địa, cùng chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Sự kết hợp giữa các yếu tố văn hóa nội sinh và ngoại sinh đã tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú, đa dạng trong quá trình hình thành văn hóa ở mỗi nước. Và chính sự tương đồng về văn hóa ấy đã làm cho mối giao lưu giữa cư dân hai nước trở nên dễ dàng hơn. Mặc dù Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia láng giềng gần gũi, cùng “Uống chung dòng nước Mê Công” và cùng chung mẫu số là xã hội nông nghiệp lúa nước với nhiều nét tương đồng về văn hóa song mỗi nước lại có bản sắc văn hóa đặc sắc, hấp dẫn riêng.
Nói đến Việt Nam, nhân dân Thái Lan luôn ấn tượng với một dân tộc anh hùng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, từng đánh bại được thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhớ đến một vĩ nhân lịch sử là Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đã cùng bà con Việt kiều biến vùng đất hoang bên bờ sông Mê Công thành vùng phát triển trù phú trong những năm Người hoạt động cách mạng tại Bản Mạy - Thái Lan (1927 - 1929) và cả những nét văn hóa truyền thống đặc sắc như ẩm thực, quốc phục của người Việt. Còn trong ấn tượng của nhân dân Việt Nam, Thái Lan là “Đất nước của nụ cười” với những ngôi chùa tháp nổi tiếng, những lễ hội truyền thống (Songkran, Hoa đăng, Hoàng gia.) và các phong tục văn hóa độc đáo khác. Những sự khác biệt này đã làm cho nhân dân 10 c hai nước luôn có nhu cầu tìm hiểu, khám phá những nét văn hóa độc đáo của nhau. Đồng thời, cũng là một trong những cơ sở để thúc đẩy sự hợp tác, trao đổi trong lĩnh vực văn hóa giữa hai nước.
Quan hệ tộc người Việt Nam và Thái Lan nằm ở vị trí gần kề, không có cách trở lớn về mặt địa lý. Điều này đã đem lại những mối quan hệ đồng tộc trong các thành phần tộc người và các liên hệ cư dân trong lịch sử. Theo các tài liệu nghiên cứu, trước khi lập quốc trên phần đất của Thái Lan ngày nay vào khoảng thế kỉ XIII, người Thái đã có một quá trình sinh sống lâu dài ở phía bắc Đông Dương và miền Nam Trung Quốc, cùng địa vực với các tộc Bách Việt [29, tr. Qua các cuộc di cư tiến dần xuống phía Nam, người Thái dần hòa nhập vào cuộc sống của cư dân bản địa với các tộc người ở Việt Nam.
Chính sự tương đồng về mặt tự nhiên, kinh tế và văn hóa đã làm cho mối quan hệ giữa các tộc người được duy trì và gắn kết bền chặt. Hơn thế, trong lịch sử đã có các cuộc di cư của người Việt sang đất Thái và ngược lại. Theo các tài liệu nghiên cứu cho thấy, người Việt Nam với nhiều lý do khác nhau đã sang Thái Lan sống từ rất lâu đời và có thể chia thành 5 đợt tản cư chính vào các năm 1770, 1782, 1834, 1920 và 1945 - 1946 [15, tr. Người Việt đầu tiên có mặt ở Ayuthaya, Thái Lan từ thế kỉ XVI [34, tr.41], đến giữa thế kỉ XVII đã xuất hiện các “Làng Việt Nam” hay “Trại Việt Nam”.
Người Việt đến Thái Lan thời kỳ này do nhiều nguyên nhân khác nhau như buôn bán, một số bị bắt làm tù binh trong chiến tranh hoặc do những nguyên nhân về kinh tế. Vào cuối thế kỉ XVIII, khi phong trào Tây Sơn đang dần lớn mạnh, một số người trong gia quyến và thuộc hạ của chúa Nguyễn dấy binh chống Tây Sơn nhưng thất bại đã chạy sang Băng Cốc, được vua Tạkxỉn giúp đỡ và sau này một số đã ở lại Thái Lan không trở về Việt Nam nữa. Năm 1782, khi bị quân Tây Sơn đánh bại ở Sài Gòn - Gia Định, Nguyễn Phúc Ánh đã cùng gia quyến và nhóm 11 c tàn quân chạy sang cầu cứu vua Xiêm. Về sau, Nguyễn Ánh trở về nước nhưng một số người đã chọn ở lại Băng Cốc.
Dưới triều đại của vua Rama IV (1851 - 1868), do điều kiện sinh sống khắc nghiệt, thiên tai, hạn hán, lũ lụt diễn ra thường xuyên dẫn tới mất mùa. Cùng với đó là sự đàn áp tôn giáo dưới triều vua Minh Mạng (1820 - 1841), đông đảo người Việt chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam đã di cư bằng đường bộ sang Lào rồi vượt sông Mê Công đến vùng Đông Bắc Thái Lan để sinh sống. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sau khi hoàn tất việc xâm chiếm Việt Nam, thực dân Pháp đã tăng cường sự đô hộ với nhân dân Việt Nam và tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1987 - 1914). Pháp đưa ra nhiều chính sách sưu thuế nặng nề và bắt phu dịch khiến hàng loạt người dân ở miền Bắc và miền Trung phải di cư sang Lào và Thái Lan.
Cũng trong thời kỳ này, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của các văn thân, sĩ phu yêu nước diễn ra mạnh mẽ, họ đã chọn Thái Lan là địa bàn liên lạc của cách mạng Việt Nam. Trước sự đàn áp của chính quyền thực dân, một số nghĩa quân của Phong trào Cần Vương ở các tỉnh Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa đã vượt Trường Sơn qua Lào rồi đến sinh sống tại Nà Ngừm, Uđon.của Thái Lan. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình, Phan Bội Châu đã nhiều lần sang Thái Lan và chọn nơi này là một trong những cơ sở để gây dựng lực lượng cách mạng tại các tỉnh Phì chịt, Uđon Thani, Sacon và Nakhon. Đầu tháng 6 - 1925, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên được Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Trung Quốc.
Tiếp đó, năm 1926, Nguyễn Ái Quốc đã cử người đến hoạt động ở Thái Lan bởi Thái Lan là địa bàn có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách mạng Việt Nam đồng thời vai trò của cộng đồng người Việt ở đây đối với sự nghiệp cứu nước của dân tộc cũng hết sức to lớn.