CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Kiểm soát nội bộ ngày càng được nhận thức quan trọng từ các nhà quản lý và những người sử dụng thông tin tài chính kế toán của đơn vị. Chương này tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quan đến đo lường mức độ thực hiện KSNB và chú trọng những nghiên cứu hướng đến khách thể nghiên cứu là các đơn vị công lập, các đơn vị HCSN. Trên cơ sở các tổng quan của những nghiên cứu trước, tác giả nhận xét xu hướng của nghiên cứu, khe hỏng nghiên cứu và xác định căn cứ để kế thừa cho nghiên cứu này. Tổng quan các nghiên cứu trước về đo lường mức độ thực hiện kiểm soát nội bộ Nghiên cứu của Ivanyos (2006) Trên cơ sở tham khảo các tham chiếu của COSO, COBIT và INTOSAI, nghiên cứu đã tiến hành tổng hợp lý thuyết việc vận hành và áp dụng KSNB tương thích với từng loại hình doanh nghiệp (DN), từ đó tác giả tiến hành đề xuất thang đo đo lường mức độ thực hiện của KSNB đối với những hoạt động tài chính tại các đơn vị.
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, trên cơ sở tham chiếu các thành phần của KSNB theo INTOSAI, tác giả đề xuất mô hình đo lường mức độ thực hiện KSNB là thang đo bậc 1 trong các đơn vị công lập với năm thành phần kế toán quản trị của INTOSAI bao gồm: Môi trường kiểm soát (CE, 7 biến quan sát); Đánh giá rủi ro (RA, 3 biến quan sát); Hoạt động kiểm soát (CA, 3 biến quan sát); Thông tin truyền thông (IC, 4 biến quan sát); Giám sát (MO, 2 biến quan sát). Mô hình đo lường mức độ thực hiện KSNB của nghiên cứu được trình bày tại Sơ đồ 1.01: Mô hình đo lường Mức độ thực hiện KSNB (Ivanyos, 2006) Nghiên cứu của Reginato, Nonnis & Pavan (2012) Nghiên cứu này xác định phương pháp đo lường thực hiện HTKSNB trong các đơn vị sự nghiệp công lập, so sánh những điểm tương đồng và khác biệt của các nội dung liên quan đến cấu trúc của KSNB tại những đơn vị công lập và các đơn vị y tế công lập tại Italia. Nhằm để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu chính yếu là nghiên cứu tình huống được thực hiện trên mẫu nghiên cứu bao gồm 8 đơn vị công lập tại vùng Sardinian của Italia. Một trong những căn cứ chính yếu được nhóm tác giả sử dụng để xây dựng thang đo đo lường mức độ thực hiện của HTKSNB trong các đơn vị công lập là EC Regulation 1260/99 and 438/01 của Ủy ban Châu Âu và Guidelines for Internal Control Standards for the Public Sector của INTOSAI.
Dựa trên các căn cứ trên, tác giả khái niệm HTKSNB là một quá trình tích hợp được thực hiện bởi Ban giám đốc và nhân sự của đơn vị và được thiết kế để giải quyết rủi ro và cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng khi theo đuổi sứ mệnh của đơn vị, những mục tiêu chung sau đây sẽ được đảm bảo đạt được: Thực hiện có trật tự, chuẩn tắc, tiết 8 kiệm, hiệu quả các hoạt động; Hoàn thành nghĩa vụ giải trình; Tuân thủ các luật và quy định hiện hành; Bảo vệ tài nguyên chống mất mát, lạm dụng và hư hại. Thang đo thực hiện HTKSNB là thang đo bậc hai, bao gồm năm thành phần bậc 1 là: Môi trường kiểm soát được đo lường bằng 5 biến quan sát; Đánh giá rủi ro được đo lường bằng 4 biến quan sát; Hoạt động kiểm soát được đo lường bằng 5 biến quan sát; Thông tin truyền thông được đo lường bằng 2 biến quan sát và Giám sát được đo lường bằng 2 biến quan sát. Mô hình đo lường mức độ thực hiện KSNB của nghiên cứu được trình bày tại Sơ đồ 1.02: Mô hình đo lường thực hiện HTKSNB (Reginato, Nonnis & Pavan, 2012) Nghiên cứu của Afiah & Azwari (2015) Nghiên cứu hướng đến mục tiêu chính yếu là đo lường mức độ thực hiện KSNB và tác động của nó đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính tại các đơn vị công lập ở Nam Samatera Indonesia. Phương pháp được nghiên cứu là phương pháp khảo sát với các đối tượng khảo sát được chọn là lãnh đạo các đơn vị tại các đơn vị công lập ở Nam Samatera Indonesia.
Trên cơ sở tham chiếu các nghiên cứu trước về thực hiện KSNB tại các đơn vị công lập, thang đo mức độ 9 thực hiện HTKSNB là thang đo bậc hai, bao gồm năm thành phần bậc 1 là: Môi trường kiểm soát (5 biến quan sát); Đánh giá rủi ro (3 biến quan sát); Hoạt động kiểm soát (4 biến quan sát); Thông tin và truyền thông (3 biến quan sát); Giám sát (3 biến quan sát). Kết quả khảo sát cho thấy được mức độ thực hiện KSNB trong các đơn vị công lập ở Nam Samatera Indonesia được đánh giá tốt với số điểm chung là 4,57/7điểm, cụ thể là Môi trường kiểm soát đạt 4,57 điểm; Đánh giá rủi ro là 4,55 điểm; Hoạt động kiểm soát là 4,54 điểm; Thông tin và truyền thông là 4,62 điểm; Giám sát là 5,56 điểm. Thang đo đo lường mức độ thực hiện KSNB được trình bày tại sơ đồ 1.03: Mô hình đo lường Mức độ thực hiện KSNB (Afiah & Azwari, 2015) Nghiên cứu của Lagat & Okelo (2016) Nghiên cứu đã vận dụng khuôn mẫu của COSO để tiến hành đo lường mức độ thực hiện KSNB của các đơn vị công lập thuộc Chính quyền Quận Baringo ở Kenya. Mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường mức độ thực hiện KSNB tìm hiểu tác động của việc thực hiện KSNB đến hiệu quả quản trị tài chính trong các đơn vị công lập thuộc Chính quyền Quận Baringo ở Kenya.
Thang đo mức độ thực hiện là KSNB là thang đo bậc hai, bao gồm năm thành phần bậc 1 là: Môi trường kiểm 10 soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát. Phương pháp khảo sát được sử dụng, mẫu thu thập dữ liệu bao gồm 97 đơn vị công lập thuộc Chính quyền Quận Baringo ở Kenya với đối tượng khảo sát bao gồm: kiểm toán nội bộ, kế hoạch tài chính, nhân viên kế toán và nhà quản trị đơn vị. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy hoạt động kiểm soát và giám sát tác động đến hiệu quả quản trị tài chính trong các đơn vị công lập thuộc Chính quyền Quận Baringo ở Kenya. Nghiên cứu của Kewo & Afiah (2017) Mục tiêu chính yếu của nghiên cứu này là đo lường mức độ thực hiện của HTKSNB trong các đơn vị công lập tại Indonesia.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng với phương pháp khảo sát được sử dụng để thu thập dữ liệu giúp thực hiện mục tiêu nghiên cứu đã đề ra trên mẫu khảo sát bao gồm 66 đơn vị chính quyền địa phương tại 15 huyện và thành phố ở tỉnh Bắc Sulawesi của Indonesia. Dựa trên hai nền tảng chính yếu là khái niệm HTKSNB của American Institute of Certified Public Accountants Professional Standards (Hoa kỳ) và Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission (COSO, 2013), nghiên cứu này đã đưa ra khái niệm HTKSNB là quy trình do Ban Giám đốc, nhà quản lý và các nhân sự khác của đơn vị thiết lập hiện nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu được phân loại cụ thể bao gồm: (a) Kiểm soát hoạt động liên quan đến việc sử dụng một cách hiệu quả và tránh lãng phí các nguồn lực của đơn vị; (b) các biện pháp kiểm soát báo cáo tài chính liên quan đến việc lập và công bố báo cáo tài chính đáng tin cậy; (c) các kiểm soát tuân thủ liên quan đến việc tuân thủ của đơn vị đối với các luật và quy định hiện hành. Dựa trên các cơ sở trên, thang đo HTKSNB được sử dụng là thang đo bậc hai, bao gồm năm thành phần cấu thành của HTKSNB là: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông và Giám sát. Mô hình đo lường mức độ thực hiện KSNB của nghiên cứu được trình bày tại sơ đồ 1.04: Mô hình đo lường Mức độ thực hiện KSNB (Kewo & Afiah, 2017) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Yến (2018) Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu là đánh giá thực trạng thực hiện KSNB tại các trường đại học công lập Việt Nam trong bối cảnh là thực hiện cơ chế tự chủ.
Tác giả đã dựa vào khuôn mẫu COSO 2013, căn cứ vào năm thành phần cấu thành KSNB là: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hệ thống thông tin kế toán; các thủ tục kiểm soát; Giám sát để tiến hành phân tích thực trạng thực hiện KSNB trong điều kiện TCTC tại các các trường đại học công lập Việt Nam và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện HTKSNB theo từng yếu tố cấu thành. Bằng phương pháp thực nghiệm, nghiên cứu đã chỉ rõ việc xây dựng HTKSNB trong các trường đại học công lập Việt Nam đa phần chưa chú trọng đến việc kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của đơn vị, chưa chú trọng đến quản lý rủi ro và phòng ngừa mà chỉ tập trung vào việc thực hiện các chỉ tiêu về dự toán, kế hoạch. Điều đó đã làm hạn chế tác dụng của HTKSNB, một số trường còn xem KSNB là hình thức và gây tốn kém chi phí. Đối với thành phần Môi trường kiểm soát, tác giả đã chỉ ra rằng cơ cấu tổ chức hoạt động của bộ máy đơn vị còn cồng kềnh; chính sách nhân sự; vấn đề khen thưởng, kỷ luật đa phần chưa khuyến khích được người lao 12 động làm việc hiệu quả mà còn gây gian lận và tắc trách tại đơn vị.
Đối với thành phần Đánh giá rủi ro, nghiên cứu cho thấy Ban Lãnh đạo tại đơn vị có sự quan tâm thích đáng đến việc phân tích và đánh giá rủi ro; Đối với thành phần Hoạt động kiểm soát, nghiên cứu chỉ ra rằng đa số trường đại học công lập còn chưa thật sự quan tâm đến mặt kiểm soát hoạt động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, kiểm soát hiệu quả tài chính; việc ban hành những nội quy, quy chế quy trình phục vụ cho công tác kiểm soát còn chậm, chưa đầy đủ. Đối với thành phần Giám sát, bộ phận giám sát chủ yếu là các ban thanh tra và thường là các cán bộ quản lý kiêm nhiệm của các phòng ban, do đó tập trung vào chuyên môn là chính dẫn đến việc giám sát còn lõng lẽo, còn mang tính hình thức chứ chưa đi vào thực chất. Trên cơ sỡ những hạn chế, nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao mức độ thực hiện KSNB trong các trường Đại học công lập tại Việt Nam.