Chương 1 THẠCH LAM VÀ R.TAGORE: THỜI ĐẠI - NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT 1. Xã hội Nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Vì thế, các nước đế quốc đua nhau xâm lược Châu Á, châu Phi, Mỹ La Tinh. Việt Nam và Ấn Độ là hai nước nằm trong khu vực châu Á, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, trở thành mục tiêu xâm lược của đế quốc, thực dân.
Năm 1858, thực dân Pháp tiến công quân sự chiếm Việt Nam. Từ năm 1849, Ấn Độ trở thành thuộc địa của Anh. Dưới chế độ cai trị của thực dân, xã hội Việt Nam và Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Những điểm khác biệt Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia phong kiến độc lập có chủ quyền, dưới sự cai trị của triều đình nhà Nguyễn.
Các vua nhà Nguyễn cố gắng xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng mạnh nhưng chính sách có nhiều thiếu sót và chưa hợp lý. Đối diện với cuộc xâm lược của Pháp, tình hình trong nước gặp nhiều khó khăn: nông nghiệp ngày càng sa sút, công thương nghiệp đình đốn, quân sự lạc hậu, chính sách đối ngoại có những sai lầm… Trước một kẻ xâm lược đến từ phương Tây với sự vượt trội về tất cả các mặt, triều đình nhà Nguyễn lâm vào tình trạng tù túng vì tiềm lực dân tộc đã bị suy giảm. Việt Nam thời điểm này rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, sau đó chúng vừa tiến hành công cuộc bình định, vừa bắt đầu bộ máy cai trị tại những vùng chiến lược.
Tại Ấn Độ, trước khi bị người Anh xâm chiếm, tiểu lục địa Ấn Độ nằm dưới sự thống trị của triều Moghul. Sự thống trị của họ luôn bị những quốc gia địa phương của người Hinđu đe dọa và luôn xảy ra những cuộc lật đổ vì bạo loạn, âm mưu cung đình. Là quốc gia đa dân tộc, tôn giáo nên mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo luôn là vấn đề nóng của Ấn Độ. Những cuộc chiến tranh liên miên giữa các tập đoàn phong kiến càng khơi sâu sự chia rẽ dân tộc, làm suy yếu đất nước, cộng với những tập tục lạc hậu, lễ nghi phức tạp làm cản trở sự thống nhất Ấn Độ.
Dưới thời kì suy tàn của triều đại Moghul, phong trào đấu tranh của nhân dân chống chế độ phong kiến và sự xâm 12 c lược từ bên ngoài đánh dấu giai đoạn mạt kì của chế độ phong kiến Ấn Độ. Sau cuộc nổi dậy của binh lính Xipay, chính quyền Anh xóa bỏ hoàn toàn triều đại phong kiến Moghul, giải thể công ty Đông Ấn, đặt thuộc địa dưới quyền cai trị trực tiếp của chính phủ. Như vậy, cả Việt Nam và Ấn Độ đều nằm dưới sự cai trị của đế quốc thực dân. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên trong cách xây dựng chế độ thuộc địa có nhiều điểm khác nhau.
Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính của Việt Nam rườm rà hơn Ấn Độ: Tại Việt Nam, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Campuchia, Lào. Đứng đầu Liên bang có toàn quyền. Cơ quan quyền lực tối cao là giám đốc các công sở, các viên quan cai trị đứng đầu 5 xứ, chủ sự các phòng thương mại và canh nông. Văn phòng phủ toàn quyền gồm rất nhiều phòng như: chính trị, hành chính, quân sự, nhân sự, văn thư… Ngoài ra, còn có các cơ quan như: Hội đồng phòng thủ Đông Dương, Ủy ban tư vấn về mỏ.
Tại Ấn Độ, Anh hoàng giao phó quyền thế cho phó vương Ấn Độ, thay thế cho vị toàn quyền Ấn Độ cũ và trực thuộc Bộ Ấn Độ, phó vương được phụ tá bởi một hội đồng hành pháp gồm 6 ủy viên lập nên một Bộ nhỏ với một chuyên viên tài chính, một nhân viên công chính, một chuyên viên tư pháp và những chuyên viên khác. Về chính trị: Ở Việt Nam, Pháp tiến hành chia Việt Nam thành 3 xứ với bộ máy cai trị khác nhau: Bắc Kỳ và Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ, Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn của Pháp. Ở Trung Kỳ, Pháp vẫn duy trì triều đình nhà Nguyễn nhưng vua An Nam không có thực quyền mà do Khâm sứ Trung Kỳ nắm quyền, mỗi bộ đều có một viên chức Pháp với Hội đồng bảo hộ giúp việc. Trong quá trình cai trị, thực dân Pháp luôn kiểm soát chặt chẽ và đặt những cơ cấu xã hội cũ dưới quyền cai trị của mình, đồng thời tìm mọi cách cắt xén quyền hành, hạ thấp vai trò của triều đình Huế.
Hành động của thực dân Pháp làm nhân dân Việt Nam cảm thấy bị áp bức, bóc lột nhiều hơn các thuộc địa khác dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh chống Pháp nổ ra. Tại Ấn Độ, sau cải cách năm 1858, Anh đưa đến cho cả ba quận Bengale, Madras và Bombay những hội đồng lập pháp: quyền lập pháp trong tay quan toàn quyền ở Calcutta, quyết định cho tất cả Ấn Độ thuộc Anh. Nhiều cải cách quan trọng khác được thực hiện trong tổ chức quân sự và tư pháp. Các đội quân của công ty Đông Ấn cũ nay đặt dưới quyền Anh hoàng nhưng chỉ dân bản xứ mới được làm lính trong các quân đội ấy.
Bên cạnh phần lãnh thổ là thuộc địa Anh vẫn còn phần lãnh thổ thuộc các hoàng gia Ấn. Các tiểu quốc này nằm giữa bán đảo, mỗi tiểu quốc trên 13 c nguyên tắc đều độc lập và ràng buộc với Anh bởi một hiệp ước riêng, trong đó xác định trách nhiệm của nó đối với Anh quốc. Trước nguy cơ chống đối của nhân dân thuộc địa Ấn, Anh đã tìm cách ràng buộc khéo léo lãnh thổ của các tiểu vương quốc mà không làm mất đi quyền lợi của chính quốc. Tuy nhiên, tất cả các lãnh thổ tự trị đều phải thừa nhận sự đứng đầu về mặt “tinh thần” của nữ hoàng Anh.
Đây thực chất là sự thành lập một thứ quyền lực tự trị có kiểm soát được đảm bảo bằng quyền tối cao của thực dân Anh tại Ấn Độ. Chính sách “chia để trị” là giống nhau nhưng cách cai trị thuộc địa của thực dân Pháp tại Việt Nam mang tính trực tiếp, cứng nhắc hơn so với thực dân Anh tại Ấn Độ. Những điểm tương đồng Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, Anh tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam và Ấn Độ. Hai nước có nhiều chuyển biến ở kết cấu giai tầng, bên cạnh các giai cấp cũ xuất hiện thêm một số giai cấp mới.
Lực lượng xã hội cũ còn tồn tại ở Việt Nam là giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm trong lịch sử, ở Ấn Độ là giai cấp quý tộc phong kiến. Hai giai cấp này trước đây là giai cấp thống trị, nay trở thành tay sai đắc lực cho Pháp, Anh để bóc lột nhân dân và công cuộc cai trị của chính quyền thực dân. Bên cạnh đó, tại Việt Nam và Ấn Độ còn có giai cấp nông dân, giai cấp này bị địa chủ, quý tộc, thực dân bóc lột nặng nề, cướp đoạt ruộng đất nên họ vừa có mâu thuẫn dân tộc, vừa có mâu thuẫn giai cấp với đế quốc thực dân và phong kiến tay sai phản động, trong đó mâu thuẫn dân tộc là lớn nhất. Giai cấp nông dân vì bị cướp đoạt ruộng đất nên họ phải ra thành phố kiếm sống.
Một bộ phận tham gia vào đội ngũ công nhân nhà máy hoặc đứng ra làm ăn buôn bán nhỏ, từng bước góp phần hình thành hai lực lượng xã hội mới là công nhân và trí thức tiểu tư sản trong bức tranh chung của các giai cấp mới hiện đại. Quá trình khai thác thuộc địa của thực dân làm xuất hiện thêm một số giai cấp, tầng lớp mới: Giai cấp công nhân Việt Nam và Ấn Độ ra đời cùng quá trình bần cùng hóa giai cấp nông dân dưới chế độ bóc lột của thực dân, phong kiến. Phần lớn họ xuất thân từ tầng lớp nông dân, bị dồn đến bước đường cùng cơ cực ở quê hương, họ bỏ lên thành phố mong tìm được việc làm trong các nhà máy, xí nghiệp. Khi thực dân bắt tay vào công cuộc “công nghiệp hóa” thuộc địa, nhu cầu tuyển mộ nhân công ngày càng nhiều thu hút hơn nữa số nông dân bị mất đất bỏ quê ra đi, từ đó sản sinh ra đội ngũ những người vô sản trên chính những miền đất gieo mầm xuất hiện giai 14 c cấp tư sản Việt Nam và Ấn Độ.
Giai cấp công nhân sau đó trở thành giai cấp tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc. Giai cấp tư sản Việt Nam bao gồm: tư sản mại bản, tư sản dân tộc. Tư sản mại bản có quyền lợi gắn với thực dân Pháp, trở thành đối tượng của cách mạng, còn tư sản dân tộc bị Pháp chèn ép nên họ có tinh thần chống thực dân Pháp, chống phong kiến nhưng tư tưởng giao động. Giai cấp tư sản Ấn Độ phần lớn xuất thân từ các Zamindar (địa chủ), các Rajah (vương công), những người buôn bán và cả những người cho vay lãi nặng.
Thực dân Anh không thể tự mình thâu tóm, điều hành các nhà máy, xí nghiệp, chúng buộc phải cho phép tầng lớp có thế lực ở địa phương làm chủ. Những nhà tư bản này từ chỗ là những nhà buôn hay những người cho vay nặng lãi đã vươn lên, chớp thời cơ làm ăn với tư bản Anh, trở thành nhóm tư sản mại bản đầu tiên ở Ấn Độ. Giai cấp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm: học sinh, trí thức, viên chức, những người làm nghề tự do. Trong đó, giới trí thức và học sinh là bộ phận quan trọng của tầng lớp tiểu tư sản.
Đời sống của tư sản Việt Nam bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành những người vô sản. Tiểu tư sản Việt Nam có lòng yêu nước, căm thù đế quốc thực dân, lại chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào nên đây là lực lượng có tinh thần cách mạng cao. Được phong trào cách mạng rầm rộ của công - nông thức tỉnh, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông, đóng vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân nhất là ở thành thị. Tại Ấn Độ, tầng lớp trí thức tiểu tư sản là những người vừa được trang bị vốn kiến thức hiện đại, vừa được hấp thu nền văn hóa phương Tây với những tư tưởng tự do, tiến bộ, đồng thời luôn gìn giữ trong mình những mạch chảy của truyền thống dân tộc.