Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC DỰA TRÊN VẤN ĐỀ 1. Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức, phát triển tư duy vật lí của người học 1. Khái niệm quá trình dạy học “Quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành động dạy, hành động của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học” [20]. Bản chất của quá trình dạy học Do quá trình dạy học là sự tương tác giữa con người với con người trong các điều kiện ảnh hưởng thực trạng về tình hình của, kinh tế, chính trị, tâm lý, trình độ khoa học kĩ thuật,.
Vì vậy khi xét bản chất của quá trình dạy học cũng cần có cái nhìn tổng quát từ đó đưa ra bản chất của quá trình dạy học như sau [20]: + Quá trình dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể. + Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức. + Quá trình dạy học là một quá trình tâm lý. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Quá trình dạy học là một quá trình xã hội.
+ Quá trình dạy học là một quá trình học sinh vừa là khách thể vừa là chủ thể. + Quá trình dạy học là một quá trình động, vừa mang tính ổn định và bất ổn định. + Quá trình dạy học chịu sự tác động của điều kiện bên ngoài và điều kiện bên trong. + Quá trình dạy học là một quá trình điều khiển và điều chỉnh của giáo viên kết hợp với quá trình tự điều khiển và tự điều chỉnh của học sinh.
Các khái niệm về dạy học tích cực 1. Khái niệm về tính tích cực nhận thức của người học Tính tích cực học tập là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở cố gắng trí lực và nghị lực cũng như khát vọng cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Các biểu hiện của hoạt động tích cực nhận thức của người học - Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh: Trong phương pháp dạy học tích cực, giáo viên là người giúp đỡ, hướng dẫn, lôi cuốn người học tham gia vào các hoạt động học. Thông qua các hoạt động đó lôi cuốn học sinh tự tìm hiểu khám phá những điều mình chưa biết, còn nghi ngờ chứ không phải là thụ động tiếp thu những trí thức do giáo viên đưa ra theo ý chủ quan của mình.
Từ đó học sinh, đối tượng nhận thức vừa nắm được kiến thức, rèn luyện kĩ năng, vừa nắm được phương pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, đồng thời bộc lộ và phát triển tư duy sáng tạo trong học tập. - Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học: Trong phương pháp dạy học tích cực nó rèn luyện cho học sinh phương pháp học tập phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học hiện đại đồng thời nó phù hợp với mục tiêu dạy học. Trong phương pháp dạy học dựa trên vấn đề, cốt lõi là phương pháp tự học, tự nghiên cứu giúp học sinh rèn luyện được phương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp, kĩ năng, thói quen làm việc khoa học giúp kết quả học tập của học sinh tăng lên theo thời gian. - Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học nhóm: Trong hoạt động học mối quan hệ giao tiếp, tương tác giữa thầy với trò, giữa trò với trò tạo mối quan hệ cá nhân trong việc chiếm lĩnh nội dung học tập.
Thông qua thảo luận, tranh luận giữa các học sinh trong nhóm khi trao đổi tìm kiếm thông tin và giữa các học sinh thuộc các nhóm khác trong hoạt động phản biện thì ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định, hay bác bỏ. Thông qua đó người học tiếp thu được nhiều vốn kinh nghiệm của cả tập thể chứ không chỉ vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo giúp cho vốn kiến thức của học sinh mở rộng và đạt trình độ cao hơn. - Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: Thông qua việc đánh giá học sinh giúp người dạy, cấp quản lí nhận định thực trạng học tập của trò để từ đó thay đổi hoạt động học của trò hoạt động dạy của thầy sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của từng lớp và giúp các cấp quản lí điều chỉnh cho toàn khối, toàn trường. Trong phương pháp tích cực, giáo viên là người hướng dẫn học sinh tự đánh giá mình và tự đánh giá lẫn nhau nên giáo viên cần tạo thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau.
Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động học kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành công của mỗi học sinh trong tương lai. Với phương pháp dạy học tích cực, học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, nội dung học tập, chủ động tham gia vào các hoạt động nhóm hoặc tự nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu hài liệu còn giáo viên trở thành người thiết kế, hướng dẫn, tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh theo hướng độc lập hoặc theo nhóm để đạt mục tiêu nội dung kiến thức theo chương trình đề ra. Với phương pháp dạy học tích cực này khi hoạt động trên lớp giáo viên nhàn hạ hơn do học sinh hoạt động là chủ yếu. Song khi ở nhà giáo viên soạn giáo án, các phương án kiểm tra đánh giá, hoạt động học tập cho học sinh phải đầu tư nhiều công sức, thời gian hơn so với kiểu dạy học truyền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Với việc chuẩn bị kĩ các phương án trước ở nhà giáo viên mới thực hiện bài lên lớp với nhuần nhuyễn và có thể đóng vai trò là người hướng dẫn, giúp đỡ học sinh tự tìm hiểu kiến thức. Mối quan hệ giữa tính tích cực với việc phát triển tư duy học sinh Dạy học phát huy tính tích cực và phát triển tư duy, phù hợp với quy luật học tập của phương pháp, tổ chức dạy và học hiện đại ở đó đòi hỏi học sinh tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác với các bạn trong việc chiếm lĩnh thông tin và cùng nhau học tập. Dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh nhằm phát triển tư duy, từ đó học sinh hiểu sâu, bền vững hơn kiến thức đồng thời giúp học sinh phát triển phẩm chất đạo đức: tính kiên trì, tinh thần trách nhiệm, tôn trọng nhau, và ý thức tập thể. Một số khái niệm * Tư duy Theo M.N Sacđacôp: “Tư duy là sự nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của chúng.
Tư duy cũng là sự nhận thức và sự xây dựng sáng tạo những sự vật, hiện tượng mới, riêng lẻ của hiện thực trên cơ sở những tri thức khái quát hóa đã thu nhận được” [13]. Theo Nguyễn Quang Uẩn: “Tư duy là sự phản ánh trong bộ não con người những dấu hiệu bản chất của sự vật và hiện tượng những mối quan hệ có tính quy luật giữa chúng” [21]. * Tư duy vật lí Theo Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng: “Tư duy vật lý là sự quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối quan hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và đại lượng vật lý, dự đoán các hệ quả mới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ các thuyết và vận dụng những kiến thức khái quát thu được vào thực tiễn” [15]. Qua khái niệm trên ta thấy tư duy vật lí chính là hành động quan sát, phân tích các hiện tượng vật lí diễn ra phức tạp thành các bộ phận đơn giản đồng thời tìm ra mối liên hệ giữa chúng cả về phần định tính và định lượng.
Từ mối quan hệ đó, dự đoán các hệ quả, từ đó vận dụng vào giải thích các hiện tượng vật lí diễn ra trong thực tiễn. Các thao tác tư duy cơ bản Các thao tác tư duy cơ bản như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa [21] các thao tác tư duy này phù hợp với đặc trưng của bộ môn Vật lí giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức và vận dụng vào giải quyết các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên. - Phân tích: “Là hành động chia nhỏ đối tượng để người học thấy được bản chất của hiện tượng đồng thời thiết lập mối quan hệ giữa chúng” [21]. Ví dụ khi nghiên cứu về lực ma sát ta nhận thấy khối lượng, bản chất, tình trạng, tiếp xúc, vận tốc, diện tích tiếp xúc có ảnh hưởng đến độ lớn của lực ma sát sau đó ta đi làm các thí nghiệm để loại bỏ các yếu tố không ảnh hưởng đến lực ma sát như vận tốc, diện tích bề mặt tiếp xúc.
- Tổng hợp: “Là kết hợp lại các thành phần nhỏ của hiện tượng để quan sát hiện tượng tổng quát nhất” [21]. Ví dụ Khi học phần điện dung tụ phẳng từ q biểu thức tính điện dung theo định nghĩa C = U và điện dung C chỉ phụ thuộc hình dạng, kích thước hai bản tụ, và môi trường bên trong tụ còn q phụ thuộc vào hiệu điện thế u tích cho tụ từ đó cho thấy C không phụ thuộc vào u hay q mà chỉ có q và u phụ thuộc lẫn nhau và q phụ thuộc vào C khi u không đổi. - So sánh: “Dùng để xác định sự giống nhau và khác nhu của sự vật hiện tượng. Nó thường được dùng trong nghiên cứu hiện tượng mới” [21].
Ví dụ khi nghiên cứu về thấu kính và gương cầu có sự tương tự về công thức toán học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xác định vị trí độ phóng đại ảnh và vật, chỉ khác là thấu kính cho ánh sáng đi qua còn gương cầu thì phản xạ anh sáng nên cách vẽ đường đi tia sáng có khác nhau. - Trừu tượng hoá: “Là hoạt động loại bỏ các yếu tố không cần thiết xung quanh sự vật hiện tượng chỉ để lại cái cần thiết để tư duy” [21].