mở đầu thời kỳ quy hoạch phát triển lâm nghiệp trên cơ sở QHSD đất theo địa lý với vùng sản xuất là nền tảng của quy hoạch vùng cho sản xuất lâm nghiệp. Thập kỷ 30 và 40 tại Châu Âu quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Tại vùng Rhodesia trước đây, nay là Cộng hoà Zimbabwe, Bộ Nông nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay hướng dẫn QHSD đất hỗ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng cho trồng rừng [51]. Năm 1966 Hội đất học của Mỹ Và Hội nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong QHSD đất.
Tại Mỹ, bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai vào năm 1929, tiếp theo là xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscovin. Kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí [50]. Hạn chế của quy hoạch này là tạo việc khai thác rừng quảng canh, không kiểm soát lửa rừng và chống xói mòn. Năm 1985 một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế về QHSD đất được tổ chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình QHSD đất.
Theo Purnell năm 1988, mục tiêu của QHSD đất đựợc các chuyên gia xác định là “Thiết lập các kế hoạch thực tiễn có khả năng sử dụng tốt nhất các loại đất đai nhằm đạt được các mục tiêu khác nhau để tăng sản xuất quốc gia, cải thiện đời sống, bảo vệ môi trường, đạt các lợi ích xã hội và giải trí”. 4 câu hỏi nền tảng của quy hoạch đất đai là: Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu quy hoạch là gì? Có các phương án sử dụng đất nào? Phương án nào là tốt nhất? Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào?. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Khi xây dựng khung đánh giá đất đai, lần đầu tiên tổ chức FAO năm 1976 đã đề xuất cấu trúc khung QHSD đất với 10 điểm chính [42]. Trong đó phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng sử dụng đất được xét như là các bước chính trong quá trình quy hoạch.
Trên cơ sở đó nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu các phương pháp quy hoạch lâm nghiệp cấp địa phương và phương pháp QHLN cấp địa phương có thể được khái quát bằng 2 cách tiếp cận chủ yếu: tiếp cận từ trên xuống (Top-down Approach) và tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up Approach). Cách tiếp cận thứ nhất được hình thành từ khi có quy hoạch ra đời cho đến nay và được áp dụng cho quy hoạch ngành. Cách tiếp cận này ngày càng bộc lộ những hạn chế, kém hiệu quả vì không có sự tham gia của cộng đồng khi các chương trình thực hiện ở cấp vi mô. Cách tiếp cận thứ 2 được hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng “Sự không thể thiếu được” vai trò của cộng đồng nông thôn trong lập kế hoạch và quản lý tài nguyên của cộng đồng [40].Từ đây thuật ngữ “Quy hoạch dựa vào cộng đồng” (Community-based Planning) bắt đầu xuất hiện [37].
Gilmour năm 1997 đã phân biệt 2 loại tiếp cận, đó là tiếp cận kinh điển (Classical Approach) và tiếp cận lấy người dân làm trung tâm (People’s centered Approach) [43, tr. Những nghiên cứu của ông về quy hoạch và quản lý rừng cộng đồng ở Nepal chứng tỏ những ưu thế về tiếp cận mới trong xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cộng đồng. Trong khuôn khổ quy hoạch quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, hệ thống thông tin số liệu và thu thập số liệu được nhiều tác giả nghiên cứu. Các tác giả Lund và Soda năm 1987 đã đưa ra hệ thống thông tin cần thiết cho quy hoạch xây dựng rừng [47].
Trước đó, vào năm 1984, Bohlin đề xuất yêu cầu của hệ thống thông tin cho quy hoạch trồng rừng [38]. Cuối thập kỷ 70, các phương pháp điều tra, đánh giá truyền thống về điều kiện vật lý sinh học như: điều tra thổ nhưỡng, đánh giá đất đai, vẽ bản đồ. ít được nghiên cứu mà thay vào đó là các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia như: Đánh giá nhanh nông thôn (RRA), Nông dân tham gia đánh giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 (PRA), Phương pháp quá trình sáng tạo. Đặc biệt là phương pháp Phân tích các hệ thống canh tác cho QHSD đất vi mô được nghiên cứu rộng rãi [40].
Tại Châu á, Châu Phi và Nam Mỹ những kết quả thử nghiệm xác nhận rằng phân tích hệ thống canh tác là một công cụ quy hoạch và lập kế hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất cấp địa phương. Luning năm 1990, lần đầu tiên nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ thống canh tác cho QHSD đất [49]. Năm 1994 một nhóm chuyên gia tư vấn của FAO đã công bố quy trình kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ thống canh tác cho QHSD đất. Phương pháp này có tên gọi là LEFSA [48], nó có hạn chế là đòi hỏi hệ thống thông tin phân tích lớn, khó áp dụng cho quy hoạch địa phương.
Theo Erwin năm 1999, phân tích hệ thống canh tác là công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại hộ gia đình để xác định mục tiêu quy hoạch, xác định các kiểu sử dụng đất hiện tại và phương án sử dụng đất mới, đánh giá các phương án sử dụng đất khác nhau nhằm mục đích lựa chọn phương án tốt nhất [41].2 Việt Nam Đảng và Nhà nước ta từ lâu đã có những chủ trương, chính sách cụ thể cho việc quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp xã, cụ thể như: Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài” (Điều 18) [8]. Luật đất đai năm 1993 quy định rõ 6 loại đất với 5 quyền sử dụng tuỳ theo từng loại đất và mục đích sử dụng mà được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng. Luật đất đai nêu rõ trong điều 13 là quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai là một trong 7 nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai [21].
Luật Đất đai là cơ sở pháp lý cơ bản nhất cho QHLN. Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 phân định rõ 3 loại rừng làm cơ sở cho QHLN [22]. Theo biên bản hội thảo quốc gia về “Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp” năm 1997 nhiều ý kiến cho rằng cần nghiên cứu tính thống nhất giữa 2 luật: Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển rừng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trong quy hoạch và giao đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp, xác định rõ vai trò của địa phương, đặc biệt là cấp xã trong quy hoạch và giao đất giao rừng [1]. Bên cạnh đó là văn bản quan trọng nhất về giao đất lâm nghiệp là Nghị định 02/CP lại ít đề cập đến vai trò của cấp xã [5].
Mới đây nhất Nghị định của Chính phủ số 163/1999/NĐ-CP ra ngày 1 tháng 11 năm 1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp có một số điều nói tới nhiệm vụ và quyền hạn cấp xã trong quy hoạch và giao đất lâm nghiệp [6]. Mặc dù, các văn bản pháp quy chưa quy định rõ quyền hạn đầy đủ của cấp xã trong QHLN, nhưng ở các văn bản pháp quy nêu một số điểm quan trọng trong QHSD đất cấp xã như: Trên địa bàn xã làm rõ 3 loại đất: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng, làm rõ 3 loại rừng: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, để tiến hành quy hoạch sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi và đồng cỏ, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống. UBND xã tổ chức QHSD đất đai trong địa phương và thông qua hội đồng nhân dân và trình lên cơ quan có thẩm quyền để phê duyệt. Trên cơ sở quy hoạch đất đai được phê duyệt, UBND xã tổ chức cùng nhân dân trong xã tiến hành quy hoạch để lập kế hoạch hoặc xây dựng các dự án phát triển xã cho từng lĩnh vực.
Ban lâm nghiệp xã và địa chính xã có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan khác để quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch, lập kế hoạch và xây dựng các dự án cấp xã. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã chú trọng đến QHLN cấp địa phương, nhưng bên cạnh đó hiện nay chưa có các quy định cụ thể về QHLN cấp địa phương, đặc biệt là cấp xã. Những điểm liên quan đến quy hoạch lâm nông nghiệp cấp xã chưa được thống nhất. Trên thực tế cấp xã mới có định hướng và mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp Các quan điểm về quy hoạch lâm nghiệp cấp xã Vào đầu thập kỷ 90, các vấn đề QHLN cấp vi mô được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu.
Các nghiên cứu của Reichenberg (1992) [24] và các nhà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt Nam chưa có QHSD đất, quy hoạch QHLN cấp vi mô được xây dựng trên cơ sở xem xét mọi khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai, vì vậy việc tiến hành QHLN còn thiếu cơ sở thực hiện. Năm 1990 Tổng cục quản lý ruộng đất có ban hành bản hướng dẫn QHSD đất vi mô theo thông tư số 106/ĐKTĐ [25]. Nhiều tỉnh thực hiện quy hoạch vi mô theo hướng dẫn này. Tuy nhiên, khi triển khai gặp những khó khăn về phương pháp chưa thống nhất.
Dù sao quy hoạch vi mô cũng là tiền đề để thay đổi cách nhìn về quy hoạch cấp xã trong những năm tiếp theo. Khi khảo sát 5 tỉnh Trung tâm miền núi phía bắc Việt Nam Reichenberg năm 1992 cho rằng quy hoạch vi mô ở Việt Nam nên được nghiên cứu để phát triển khái niệm quy hoạch cấp xã trên 4 khía cạnh sau [24]: - Phủ toàn bộ đất đai trong xã, nghĩa là quy hoạch lâm nông nghiệp dựa trên quy hoạch sử dụng đất trên toàn bộ diện tích hành chính trong xã.