phần mở đầu và kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu, Luận văn đƣợc chia thành bốn (04) chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu và cơ sở lý luận về nguồn vốn và đầu tƣ Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả đầu tƣ đầu tƣ nguồn vốn nhàn rỗi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tƣ nguồn vốn nhàn rỗi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN VÀ ĐẦU TƢ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu BHTGVN thuộc hệ thống các ngân hàng trong nƣớc. Do vậy, phần này tôi sẽ đƣa ra các nghiên cứu trƣớc đây về việc đầu tƣ và hiệu quả sử dụng vốn của các ngân hàng thƣơng mại của Việt Nam cũng nhƣ các tổ chức bảo hiểm trên thế giới.
Các nghiên cứu nước ngoài Raimundas Zilinska và Lionius Gaizauskas (2015) đã nghiên cứu về chính sách đầu tƣ nguồn vốn của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong điều kiện thị trƣờng chứng khoán còn nhiều hạn chế. Bài nghiên cứu đánh giá xu hƣớng chung và chất lƣợng đầu tƣ của 16 tổ chức thành viên thuộc diễn đàn bảo hiểm tiền gửi Châu Âu (EFDI), những tổ chức này đều tuân thủ cơ chế cấp vốn trƣớc, có thị trƣờng chứng khoán trong nƣớc còn hạn chế. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù các tổ chức bảo hiểm tiền gửi này đều có quyền đầu tƣ nguồn vốn vào các công cụ tài chính nƣớc ngoài, 85% các công cụ đầu tƣ của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi tập trung vào các công cụ tài chính trong nƣớc, trong đó 78% là chứng khoán và 22% là tiền gửi ngân hàng nhà nƣớc. Các tổ chức bảo hiểm tiền gửi này chủ yếu đầu tƣ vào các công cụ chứng khoán của chính phủ trong nƣớc, thiếu sự đa dạng trong danh mục đầu tƣ, đặc biệt là đầu tƣ vào các công ty chứng khoán khác nhau và các đồng tiền đầu tƣ khác nhau.
Điều này dẫn đến hiệu quả đầu tƣ thấp, bế tắc khi phải chi trả cho số lƣợng lớn ngƣời gửi tiền. Do đó, tác giả khuyến nghị các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trên nên đa dạng danh mục đầu tƣ với các công cụ tài chính ở các nƣớc khác nhau, của các công ty chứng khoán khác nhau, đa dạng về kì hạn, lợi tức và các đồng tiền đầu tƣ khác nhau trên nguyên tắc thận trọng, đảm bảo tính an toàn, thanh khoản, lợi nhuận. Để giảm rủi ro đầu tƣ, các nhà quản lý của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi các nƣớc cần xây dựng các tiêu chuẩn so sánh các loại hình đầu tƣ nguồn vốn, phù hợp với chính sách đã lựa chọn nhằm đạt đƣợc các giá trị đề ra. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cosman, Phó chủ tịch của tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Canada năm 2013 đã có bài nghiên cứu về mục tiêu đầu tƣ và hoạt động đầu tƣ nguồn vốn bảo hiểm tiền gửi của Canada.
Bài nghiên cứu chỉ ra rằng, danh mục đầu tƣ của tổng công ty BHTG Canada phục vụ 02 mục tiêu là cấp vốn cho các hoạt động can thiệp để chi trả ngƣời gửi tiền và trang trải chi phí hoạt động. Do đó, để hoàn thành nghĩa vụ của mình, các danh mục đầu tƣ cần phải có tính thanh khoản để trang trải kịp thời. Tổng công ty BHTG Canada đã đƣa ra những chính sách đầu tƣ với bộ nguyên tắc hƣớng dẫn nhằm bảo toàn vốn bằng cách hạn chế rủi ro tín dụng và rủi ro về thị trƣờng. Về cơ chế quản lý, Tổng công ty BHTG Canada đã quản lý nguồn vốn đầu tƣ thông qua việc ban hành chính sách rủi ro tài chính nhƣ rủ ro tín dụng, thị trƣờng và rủi ro thanh khoản, rà soát định hàng năm và đánh giá chuyên sâu 3 năm 1 lần, thƣờng kỳ báo cáo việc tuân thủ chính sách, hiệu quả đầu tƣ vốn.
Về cơ cấu đầu tƣ vốn, công ty tập trung đầu tƣ vào các công cụ tài chính có kì hạn cao nhất 5 năm, cụ thể (kì hạn dƣới 3 năm có mức xếp hạng tín nhiệm tín nhiệm tối thiểu là A, kỳ hạn 3-5 năm có mức xếp hạng tín nhiệm tối thiểu là AA-). Phƣơng pháp quản lý đầu tƣ tập trung vào quản lý nội bộ. Bài nghiên cứu đề xuất để quản lý tốt nguồn vốn BHTG, cần phải có lộ trình rõ ràng và chính sách đầu tƣ hợp lý để đảm bảo đạt mục tiêu đề ra. Djurfjica Ognjenovic (2015) có bài nghiên cứu về thực trạng đầu tƣ nguồn vốn BHTG.
Cụ thể, bài nghiên cứu đƣa ra các vấn đề phát sinh trong quá trình đầu tƣ nguồn vốn của các tổ chức BHTG bao gồm: Khung pháp lý trong nƣớc cứng nhắc, không tồn tại hoặc tồn tại thị trƣờng thứ cấp thiếu tính thanh khoản, quy mô danh mục đầu tƣ nhỏ, thị trƣờng chứng khoán trong nƣớc hạn chế, thiếu kế hoạch đầu tƣ cũng nhƣ phƣơng án quản trị tài chính, quản lý rủi ro yếu kém cũng nhƣ thiếu tính minh bạch. Do vậy, bài nghiên cứu đã đƣa ra các phƣơng pháp đầu tƣ cho các tổ chức BHTG trong đó nêu rõ: Các tổ chức BHTG cần cần liệt kê danh sách các công cụ đầu tƣ hợp lý, các nguyên tắc đầu tƣ quan trọng bao gồm đảm bảo tính thanh khoản, tính an toàn và tính đa dạng các khoản đầu tƣ, cần có tổ chức kiểm soát nội bộ cũng nhƣ công cụ đo lƣờng về hiệu quả hoạt động đầu tƣ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vốn và nâng cao trách nhiệm giải trình của các tổ chức BHTG. Các tổ chức này cũng cần có kế hoạch đầu tƣ đúng đắn, thông qua việc lập kế hoạch về cơ cấu danh mục đầu tƣ gồm loại tiền đầu tƣ và thời gian đáo hạn của các khoản đầu tƣ, kế hoạch về nguồn tiền và dự phòng đảm bảo tính thanh khoản cũng nhƣ thƣờng xuyên báo cáo với ban lãnh đạo. Tác giả đã đƣa ra thực tiễn công cụ đầu tƣ của Croatia, trong đó tập trung chủ yếu vào các công cụ có rủi ro thấp nhƣ các công cụ tài chính của chính phủ, các quỹ do chính phủ thành lập, ngân hàng trung ƣơng.
Các nghiên cứu trong nước Các nghiên cứu trƣớc đây về thực trạng sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn của các ngân hàng thƣơng mại gần đây đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm, cụ thể nhƣ sau: Trần Huy Hoàng và Nguyễn Hữu Huân (2016) đƣa ra bài phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế. Thông qua việc sử dụng mô hình Stochastic Friontier Analyst (SFA) và phƣơng pháp hồi quy 2 Stage Least Square (2SLS) và hồi quy Tobit để chạy mô hình. Qua đó, bài nghiên cứu cho thấy trong thời kỳ hội nhập, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại bị tác động mạnh bởi những nhân tố chủ quan (thị phần, rủi ro thanh khoản, quy mô ngân hàng) và những nhân tố khách quan (lạm phát và tổngthu nhập quốc nội). Đồng thời bài nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị để giúp hệ thống ngân hàng thƣơng mại hội nhập tốt hơn nhƣ hợp tác, xây dựng đối tác chiến lƣợc và khai thác hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ của nhau để giảm chi phí.
Trong bài nghiên cứu của Đàm Hồng Phƣơng (2009), hiệu quả sử dụng vốn cụ thể là hiệu quả tài chính (khả năng sinh lời và kết quả kinh doanh) của 8 ngân hàng thƣơng mại trên địa bàn Hà Nội đã đƣợc nghiên cứu. Các giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các ngân hàng thƣơng mại đã đƣợc đề cập. Nghiên cứu của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Huyền về “Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần MB” sử dụng báo cáo tài chính của ngân thƣơng mại cổ phần Quân đội qua các năm 2008-2010 để phân 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tích hiệu quả sử dụng nguồn vốn dƣới các góc độ về tài sản, nguồn vốn, chi phí và góc độ sử dụng vốn theo các lĩnh vực hoạt động để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng MB. Bài viết đã đƣa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong ngân hàng Quân đội.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Thái (2007) cũng đánh giá về thực trạng sử dụng vốn của ngân hàng Vietcombank trong giai đoạn 2003-2003 từ đó đề xuất những phƣơng pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; trong đó có những đề xuất kiến nghị với ngân hàng Vietcombank và ngân hàng nhà nƣớc. Tác giả Bùi Quang Hƣng (2008) trong bài nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng Seabank. Một số tồn tại trong việc sử dụng vốn nhƣ chƣa đa dạng các nguồn cho vay, chƣa tập trung vào các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Do vậy, đề xuất đƣa ra cần nâng cao trình độ của cán bộ tính dụng, công tác kiểm tra giám sát cần đƣợc tăng cƣờng hơn nữa.
Nhƣ vậy, có thể thấy trên thế giới có một số tác giả nghiên cứu về hoạt động đầu tƣ vốn của các tổ chức BHTG quốc tế, trong khi đó tại Việt Nam, các tác giả chủ yếu tập trung vào hoạt động này tại các ngân hàng thƣơng mại, chƣa có đề tài nghiên cứu nào về đề tài hoạt động nguồn vốn đầu tƣ tạm thời nhàn rỗi của tổ chức BHTG tại Việt Nam. Đây là đề tài nghiên cứu độc lập, không trùng tên và nội dung với các nghiên cứu đã công bố trong và ngƣời nƣớc. Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi 1. Một số thông tin cơ bản liên quan đến bảo hiểm tiền gửi - BHTG là cam kết công khai của tổ chức BHTG về trách nhiệm chi trả cho ngƣời gửi tiền thuộc đối tƣợng đƣợc bảo hiểm khi tổ chức thành viên (những ngân hàng và tổ chức tài chính (TCTC) phi ngân hàng huy động tiền gửi)bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán.
- Tổ chức BHTG là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia BHTG, có trách nhiệm chi trả tiền gửi đƣợc bảo hiểm cho ngƣời gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.