Luận văn thạc sĩ hay đặc điểm lâm sàng hình ảnh chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao và vi khuẩn học qua dịch rửa phế quản của bệnh nhân giãn phế quản tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích đặc điểm lâm sàng và hình ảnh CT độ phân giải cao ở bệnh nhân giãn phế quản tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2016

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu cây khí phế quản

1.2. Định nghĩa, phân loại GPQ

1.3. Dịch tễ học giãn phế quản

1.4. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của GPQ

1.5. Lâm sàng của GPQ

1.6. Cận lâm sàng

1.7. Đặc điểm vi khuẩn học và nhiễm khuẩn hô hấp trong GPQ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.5. Các chỉ tiêu mô tả đặc điểm chung bệnh nhân GPQ. Chỉ tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương GPQ trên phim HRCT, vi khuẩn học

2.6. Chỉ tiêu mối liên quan giữa lâm sàng với hình ảnh HRCT của bệnh nhân GPQ

2.7. Phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu

2.8. Hình ảnh tổn thương trên phim cắt lớp vi tính độ phân giải cao

2.9. Phương pháp lấy dịch rửa phế quản qua nội soi phế quản ống mềm

2.10. Xét nghiệm vi khuẩn

2.11. Xử lý kết quả nghiên cứu

2.12. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương GPQ trên phim HRCT và vi khuẩn học của đối tượng nghiên cứu

3.3. Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với hình ảnh GPQ trên phim chụp HRCT

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Triệu chứng lâm sàng

4.3. Hình ảnh tổn thương GPQ trên phim chụp HRCT

4.4. Vi khuẩn học qua dịch rửa PQ. Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với hình ảnh tổn thương GPQ trên phim chụp HRCT

MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc điểm lâm sàng giãn phế quản

Giãn phế quản (GPQ) là tình trạng giãn nở bất thường của phế quản, dẫn đến các triệu chứng lâm sàng như ho, khạc đờm và khó thở. Bệnh thường gặp ở những người có tiền sử nhiễm trùng hô hấp mãn tính. Theo Laennec, bệnh được mô tả lần đầu vào năm 1819 với các triệu chứng điển hình. Việc hiểu rõ về đặc điểm lâm sàng của GPQ là rất quan trọng để chẩn đoán và điều trị hiệu quả.

1.1. Triệu chứng lâm sàng của giãn phế quản

Các triệu chứng chính của GPQ bao gồm ho kéo dài, khạc đờm mủ và có thể có máu. Bệnh nhân thường cảm thấy khó thở, đặc biệt khi gắng sức. Những triệu chứng này có thể làm giảm chất lượng cuộc sống và cần được theo dõi chặt chẽ.

1.2. Nguyên nhân gây ra giãn phế quản

Nguyên nhân chính gây ra GPQ thường là do nhiễm trùng phổi, lao hoặc các bệnh lý bẩm sinh. Ngoài ra, các yếu tố như hút thuốc lá và ô nhiễm không khí cũng có thể góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

II. Vấn đề và thách thức trong chẩn đoán giãn phế quản

Chẩn đoán GPQ gặp nhiều khó khăn do triệu chứng không đặc hiệu và dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Việc sử dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính (CT) là rất cần thiết để xác định chính xác tình trạng bệnh. Tuy nhiên, không phải tất cả các cơ sở y tế đều có đủ trang thiết bị hiện đại để thực hiện.

2.1. Khó khăn trong việc chẩn đoán chính xác

Nhiều bệnh nhân có triệu chứng tương tự như viêm phế quản mạn tính, dẫn đến việc chẩn đoán GPQ bị chậm trễ. Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và làm tăng nguy cơ biến chứng.

2.2. Tầm quan trọng của hình ảnh chẩn đoán

Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CT) giúp xác định rõ ràng tình trạng giãn phế quản và các tổn thương kèm theo. Đây là phương pháp chẩn đoán chính xác nhất hiện nay, giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị phù hợp.

III. Phương pháp chẩn đoán giãn phế quản hiệu quả

Để chẩn đoán GPQ, các bác sĩ thường sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm chụp X-quang phổi, CT và nội soi phế quản. Mỗi phương pháp có ưu điểm và hạn chế riêng, nhưng việc kết hợp chúng sẽ mang lại kết quả chẩn đoán chính xác hơn.

3.1. Chụp cắt lớp vi tính CT trong chẩn đoán

CT cho phép quan sát chi tiết cấu trúc phế quản và phát hiện các tổn thương nhỏ mà X-quang không thể thấy. Đây là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán GPQ.

3.2. Nội soi phế quản và vai trò của nó

Nội soi phế quản giúp bác sĩ quan sát trực tiếp tình trạng bên trong phế quản, lấy mẫu dịch rửa phế quản để xét nghiệm vi khuẩn. Phương pháp này rất hữu ích trong việc xác định nguyên nhân gây bệnh.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về giãn phế quản

Nghiên cứu về GPQ đã chỉ ra rằng việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Các phương pháp điều trị hiện nay bao gồm sử dụng kháng sinh, liệu pháp hô hấp và phẫu thuật trong một số trường hợp nặng.

4.1. Kết quả điều trị giãn phế quản

Nhiều nghiên cứu cho thấy việc điều trị sớm giúp giảm triệu chứng và ngăn ngừa biến chứng. Bệnh nhân được theo dõi thường xuyên có tỷ lệ tái phát thấp hơn.

4.2. Tương lai của nghiên cứu giãn phế quản

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới và cải thiện quy trình chẩn đoán. Việc áp dụng công nghệ mới trong y học có thể mang lại hy vọng cho bệnh nhân.

V. Kết luận và triển vọng trong điều trị giãn phế quản

Giãn phế quản là một bệnh lý phức tạp, đòi hỏi sự chú ý và can thiệp kịp thời. Việc nâng cao nhận thức về bệnh và cải thiện các phương pháp chẩn đoán sẽ giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

5.1. Tầm quan trọng của việc phát hiện sớm

Phát hiện sớm giãn phế quản giúp điều trị hiệu quả hơn và giảm thiểu biến chứng. Bệnh nhân cần được giáo dục về triệu chứng và khi nào nên tìm kiếm sự giúp đỡ y tế.

5.2. Hướng đi tương lai trong nghiên cứu

Nghiên cứu cần tiếp tục để tìm ra các phương pháp điều trị hiệu quả hơn và hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh của giãn phế quản. Điều này sẽ giúp cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay đặc điểm lâm sàng hình ảnh chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao và vi khuẩn học qua dịch rửa phế quản của bệnh nhân giãn phế quản tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu cây khí phế quản Đường thở gồm khí quản, phế quản, tiểu phế quản và phế nang. Từ khí quản chia đôi thành 2 nhánh phế quản trái và phải, các nhánh PQ chia đôi thuôn nhỏ dần. Trung bình có 16 thế hệ PQ, trước khi đến tiểu PQ tận hô hấp, số thế hệ của PQ thay đổi từ 8 đến 23 tuỳ theo vùng phổi.

Các PQ tận đi vào các phế nang. Thành của khí quản và phế quản được nâng đỡ bởi vòng sụn trước và 2 bên hình chữ C, và một giải cơ trơn xếp nằm ngang ở phía sau, bên trong có một lớp niêm mạc với nhung mao. Khí quản: dài từ 10- 12cm, rộng 18 - 20mm có khoản 20 vòng sụn. Mặt sau của khí quản là tổ chức màng không có sụn, các cơ và sợi đàn hồi.

Chỗ phân chia ra 2 phế quản gốc, tương ứng với đốt sống ngực thứ tư, tạo lên một gờ sắc cạnh gọi là carina và tạo thành với nhau 1 góc 700. PQ gốc phải ngắn hơn, to hơn, chếch hơn so với trái, nên dị vật hay rơi vào phổi phải PQ gốc nằm ngoài phổi, PQ thùy nằm trong phổi. + PQ gốc phải chia thành 3 PQ: thùy trên, thùy giữa, thùy dưới. PQ thùy trên dài độ 1cm tách vuông góc với PQ gốc phải và chia thành 3 PQ phân thùy: PQ phân thùy đỉnh (1), PQ phân thùy sau (2), PQ phân thùy trước (3).

PQ thùy giữa tách ra từ PQ gốc phải dưới chỗ tách của PQ thùy trên khoảng 2cm và chia thành 2 PQ phân thùy: phân thùy sau ngoài (4) và PQ phân thùy trước trong (5). PQ thùy dưới phải bắt đầu ngay dưới chỗ tách PQ thùy giữa và tận hết khi nó tách PQ phân thùy trên của thùy dưới, chia thành 5 PQ phân thùy: PQ phân thùy trên (6), PQ phân thùy đáy giữa hay còn gọi đáy trong (7), PQ phân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thùy đáy trước (8), PQ phân thùy đáy bên hay đáy ngoài (9) và PQ phân thùy đáy sau (10). + PQ gốc trái dài khoảng 5cm chia thành 2 PQ thùy trên và dưới. PQ thùy trên trái dài khoảng 1,5 - 2cm chia thành 5 PQ phân thùy: PQ phân thùy đỉnh (1), PQ phân thùy sau (2), PQ phân thùy trước (3), PQ phân thùy lưỡi trên (4), PQ phân thùy lưỡi dưới (5).

PQ thùy dưới trái chia thành 5 PQ phân thùy và cũng mang tên như 5 PQ phân thùy của PQ thùy dưới phải (phổi trái không có phân thùy 7 [11]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giải phẫu phổi (pubmed. Định nghĩa, phân loại GPQ 1.

Định nghĩa Bệnh GPQ được định nghĩa dựa trên hình thái học và bệnh lý học bao hàm tình trạng giãn bất thường cố định, không hồi phục của đường thở. Có nhiều định nghĩa khác nhau của tuỳ từng tác giả. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo Cole PJ và Cs (1995) định nghĩa GPQ là hình ảnh giải phẫu của bệnh PQ giãn bất thường, không hồi phục khẩu kính của PQ. Chẩn đoán cuối cùng hoàn toàn dựa trên hình ảnh đại thể, do đó không thể áp dụng cho lâm sàng và Xquang phổi chuẩn, vì chỉ có GPQ lớn mới có thể nhìn thấy trên phim Xquang [36].E (1998) cho rằng GPQ là giãn bất thường và cố định của khẩu kính PQ, có thể khu trú hoặc lan toả.

Mặc dù định nghĩa này dựa trên thay đổi bệnh học của PQ, chẩn đoán thường được gợi ý bởi hậu quả của nhiễm trùng mạn tính hay tái phát ở những PQ giãn và kết hợp với tiết dịch vào trong lòng những PQ đó [78]. Theo Bùi Xuân Tám (1999): GPQ là giãn thường xuyên không hồi phục từ một PQ trở lên của các PQ trung bình từ thế hệ cấp 3 đến thế hệ cấp 8 do kết cấu cơ, sợi chun giãn và sụn của thành PQ bị tổn thương. Có thể giãn ở PQ lớn trong khi PQ nhỏ vẫn bình thường hoặc giãn PQ nhỏ trong khi PQ lớn bình thường [20]. Theo Nguyễn Văn Thành, Chu Văn Ý, Ngô Quý Châu (2004) GPQ là giãn liên tục, vĩnh viễn không hồi phục của một hoặc nhiều PQ có đường kính trên 2mm do sự phá huỷ tổ chức chống đỡ như: lớp cơ chun, lớp sụn của thành PQ [22].

Phân loại GPQ Do tính chất tổn thương trong bệnh GPQ như vậy nên có nhiều cách phân loại khác nhau, tuỳ theo từng tác giả. * Dựa vào lâm sàng và giải phẫu bệnh lý, Beers M.H (2006) [29] chia ra: + GPQ lan toả: GPQ nhiều thuỳ ở cả hai bên phổi. Bệnh xảy ra từ lúc trẻ, thường do khuyết tật bẩm sinh hay mắc phải của cơ chế bảo vệ đường thở như bệnh xơ hoá kén, bất động nhung mao, thiếu hụt globulin miễn dịch. Thể này nặng, nhanh bị suy hô hấp và không phẫu thuật được.

+ GPQ cục bộ hay khu trú: Tổn thương chỉ ở 1-2 phân thuỳ ở một bên phổi. Thể này có thể phẫu thuật được. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 + GPQ thể ướt: Ho khạc đờm nhầy mủ số lượng nhiều, thường gặp GPQ thuỳ dưới. + GPQ thể khô: Bệnh nhân không khạc đờm mà chỉ ho ra máu đơn thuần, nhiều lần và kéo dài.

Thường gặp ở GPQ thuỳ trên. + GPQ giả: là GPQ có hồi phục sau thời gian 6 tháng. * Dựa vào chụp PQ cản quang và mô bệnh học Charles K. III và Cs (1996) [39] chia ra: + GPQ hình trụ, hình ống: Đường viền ngoài các PQ đều đặn và đường kính của các PQ xa không tăng lên nhiều, lòng của chúng thường có xu hướng kết thúc đột ngột và không nhỏ lại.

Các PQ nhỏ hơn và tiểu PQ bị lấp đầy mủ đặc. Số lần phân chia từ tế bào PQ gốc tới ngoại vi giảm đi một chút (còn 16 lần so với bình thường 17-20 lần). + GPQ hình búi, hình tràng hạt: Nhóm này số lần phân chia PQ giảm nhiều hơn nhóm hình trụ, có những nơi co hẹp tại chỗ làm cho đường viền ngoài PQ không đều giống như hình tràng hạt hay các tĩnh mạch bị giãn. Các PQ ngoại vi cũng bị tắc nhiều hơn, số lần phân chia trung bình thấy được qua chụp PQ là 4, đại thể là 5, 6 và vi thể là 8 lần so với bình thường 17- 20 lần.

+ GPQ hình túi, hình kén: Các PQ tăng dần đường kính về phần ngoại vi giống hình quả bóng. Số lần phân chia PQ tối đa là 5. Ở một số trường hợp hiếm, một GPQ hình túi tại chỗ có thể bị lấp đầy mủ đặc, dẫn đến hình thành một nang nhầy. Tổn thương thường ở PQ thế hệ 4 hoặc xa hơn.

+ Có thể gặp GPQ phối hợp cả 2 hoặc 3 loại trên cùng tồn tại trên 1 bệnh nhân. * Phân loại theo nguyên nhân [19], [22], [30]. + GPQ do tắc PQ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Tắc PQ do dị vật: khi dị vật vào PQ làm tắc PQ dẫn PQ dưới chỗ tắc bị giãn do quá trình viêm nhiễm gây huy hoại thành PQ, thường xuyên xuất hiện từ 6 - 8 tuần lễ sau khi có dị vật, có khi nhanh hơn. - Tắc PQ trong lòng PQ: phần dưới chỗ tắc bị giãn do quá trình viêm nhiễm gây hủy hoại thành PQ, tiến triển nhanh hay chậm tùy theo tiến triển của khối u và mức độ bội nhiễm.

- Tắc PQ do sẹo cũ của chấn thương, viêm nhiễm. + GPQ do viêm, hoại tử thành PQ. - GPQ do lao: xảy ra khi lao đang tiến triển hoặc do sẹo cũ của lao, thường gặp trong lao xơ phổ, hay gặp GPQ ở sàn hang lao. Người ta cũng thấy GPQ xảy ra rất sớm ở bệnh nhân lao sơ nhiễm tiến triển.

- GPQ sau viêm không đặc hiệu: như viêm phổi do vi khuẩn, virus, do sặc dịch dạ dày, hoặc hít phải dịch máu xuống phổi. + GPQ và các bệnh phổi khác - Áp xe phổi - Kén hơi phổi bội nhiễm - Nhiễm khuẩn phổi sau mổ + GPQ tiên phát [19]. - Hội chứng Kartagener (mô tả ở Đức năm 1933): Đảo ngược phủ tạng (tim bên phải), viêm xoang và GPQ lan toả, do rối loạn vận động của lông chuyển ở khí - PQ, bệnh có tính chất gia đình di truyền kiểu lặn trong nhiễm sắc thể [56]. - Hội chứng Mounier- Kuhn: GPQ kết hợp với giãn khí quản và viêm xoang sàng, xoang má, thường có viêm mũi mủ, polyp mũi.

Bệnh do khuyết tật cấu trúc tổ chức liên kết của thành PQ [80]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 - Hội chứng Williams- Campbell là GPQ từ cấp 3 đến cấp 8, thường gặp ở trẻ nhỏ do khuyết tật hoặc không có sụn PQ, gây GPQ. Soi PQ thấy PQ phồng to lên ở thì hít vào và xẹp xuống ở thì thở ra [51]. Dịch tễ học giãn phế quản Tần suất mắc bệnh và sự phân bố theo tuổi của GPQ cho đến nay vẫn còn ít biết đến vì thường có sự nhầm lẫn giữa GPQ với viêm PQ mạn tính.

Theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu và phát triển quốc gia về phúc lợi và y tế Phần Lan thống kê theo bệnh nhân vào viện trong vòng 10 năm để đánh giá tần suất mắc bệnh cho thấy trong nững năm 1983 - 1992 có 1928 bệnh nhân GPQ mới phát hiện và 5710 bệnh nhân nhập viện thì tại bệnh viện là 4,9 BN/triệu người dân/năm ở độ tuổi từ 0 - 14, còn lại ở độ tuổi ≥ 65 là 103,8 BN trong tổng số dân cư là 38,9 BN. Như vậy, tần suất mắc bệnh GPQ ở Phần Lan là rất thấp, nhất là trẻ em [69]. Cũng theo Trung tâm nghiên cứu quốc gia Phần Lan, tỉ lệ bệnh GPQ mới mắc hàng năm ở các nước phát triển có xu hướng giảm, tổng số bệnh nhân GPQ nhập viện trong 20 năm (từ 1972 - 1992) là 12,539 BN, riêng năm 1986 là 494 BN, năm 1987 là 518 BN, trung bình có 87 - 143 bệnh nhân GPQ/triệu dân. Tỉ lệ nhập viện, độ lưu hành mới và số ngày nằm viện bình quân đều giảm 1,3%, 4,2% và 5,7% tương ứng.

Như vậy, số lưu hành mới chỉ là 50 bệnh nhân/1 triệu người vào năm 1992 và 27 bệnh nhân/1 triệu người vào năm 1997. Nguyên nhân của tỉ lệ mắc bệnh giảm đi là do tăng hiệu quả của điều trị nhiễm trùng đường hô hấp và giảm tỉ lệ mắc lao phổi [69].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ở bệnh nhân giãn phế quản" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các triệu chứng lâm sàng và hình ảnh học liên quan đến bệnh giãn phế quản. Bài viết nêu bật các dấu hiệu nhận biết, phương pháp chẩn đoán qua hình ảnh chụp cắt lớp vi tính, và cách thức bệnh ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của bệnh nhân. Những thông tin này không chỉ giúp các bác sĩ trong việc chẩn đoán và điều trị mà còn cung cấp kiến thức quý giá cho những ai quan tâm đến sức khỏe hô hấp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến hô hấp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh suy hô hấp ở gà ai cập do ornithobacterium rhinotracheale ort gây ra, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về bệnh lý hô hấp ở động vật. Ngoài ra, tài liệu Cận lâm sàng hô hấp sẽ cung cấp hướng dẫn chi tiết về các phương pháp lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý hô hấp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực hô hấp.