CHƯƠNG 1: TAC PHAM THIÊN DIỄN LUẬN VÀ NHỮNG ANH HUONG CỦA NÓ TỚI XÃ HỘI TRUNG QUỐC CUOI THE KỶ XIX ĐẦU THE KỶ XX 1.1 Tác phẩm Thiên diễn luận 1.1 Hoàn cảnh ra đời Sau chiến tranh Nha phiến (1840 — 1843 và 1856 - 1860), lịch sử Trung Quốc bước sang một trang mới. Với các điều ước Trung Anh , Điều ước Hoàng Phố Trung Pháp , Điều ước Thiên Tan , điều ước Bắc Kinh .Trung Quốc dan trở thành miếng bánh chia cho các nước dé quốc Phương Tây. Nguy cơ đối với dân tộc Trung Quốc nặng né hơn bao giờ hết. Nỗi ám ảnh vong quốc diệt chúng đè nặng lên tâm khảm của bất cứ con người Trung Quốc còn tỉnh táo nào.
Trước chiến tranh Giáp Ngọ, có đông đảo người dân Trung Quốc không am hiểu tình hình, vẫn có một tinh thần kiêu ngạo, cho rằng: Trung Quốc, nước rộng người đông, sản vật phong phú, mặc dù sau hai cuộc chiến tranh Nha Phiến bùng nổ đến nay đã gần nửa thế ky, tuy người Trung Quốc nhiều phen bị các cường quốc Anh, Pháp đánh bại, nhưng việc đối phó với các nước như Nhật Bản là một đảo quốc đất nhỏ người ít, nhất là mới duy tân không bao lâu, chắc chắn sẽ có thừa sức. Huống hồ, Trung Quốc đã học được kỹ thuật "tàu to súng lớn” của các nước phương Tây, trong tay có một lực lượng hải quân không thua gì hải quân của Nhật Bản là Hải quân Bắc Dương. Thế nhưng, kết quả của cuộc chiến tranh này thì "Đảo quốc bé nhỏ Nhật Bản" mà bấy lâu nay bị người ta xem thường, lại đánh bại Trung Quốc tan tác không còn manh giáp, kèm theo những điều ước khắt khe khác. Trước sự thật phũ phàng nói trên, một mặt chứng minh phong trào Dương Vụ theo chính sách "tàu to súng lớn" cuối cùng đã bị thất bại, mặt khác cũng buộc một 10 thiểu số người Trung Quốc vẫn còn mơ mộng hảo huyền phải bừng tỉnh trở lại.
Cái gọi là "Thiên triều thượng quốc" té ra còn hủ bại và lạc hậu hơn sự tưởng tượng của mọi người. Đồng thời, hậu quả của cuộc chiến tranh Giáp Ngọ (1894 — 1895) đã thúc đây các cường quốc đang dựa vào điều kiện "Tối huệ quốc" phiến điện mà họ dành được, sẵn sàng tranh đoạt tiếp những quyền lợi tại đất nước Trung Hoa, tức đất nước Trung Hoa sắp bị họ chia sẻ trong chớp mắt. Thời bấy giờ, tư tưởng cải lương của giai cấp tư sản bắt đầu xuất hiện từ những thập niên sáu mươi đến nay đã chín mudi, đồng thời lại đang phát triển rất nhanh chóng. Nhiều người Trung Quốc không ai bảo ai đều có chung một kết luận là nước Trung Quốc cần phải được cải cách duy tân.
Do vậy, việc cứu nước cũng như việc mưu cầu sự sinh tồn từ cải cách đã trở thành những tiếng hò hét vang dội của mỗi người Trung Quốc, và tiễn lên biến thành một phong trào chính trị, tức phong trào duy tân Mậu Tuất bùng nỗ năm 1898. Phong trào duy tân cải cách năm Mậu Tuất được xem là một phong trào cải lương chính trị, với mục đích cứu đất nước và dân tộc đang sắp sửa nguy vong, nhưng có thé nói đó chỉ là một cuộc hoạt động cải cách chính tri van số. Tuy nhiên, nếu xem đây là một cuộc truyền bá tư tưởng, một phong trào tư tưởng mới nhằm phổ biến văn hóa mới, thì nó lại có một ý nghĩa hết sức sâu xa. Trong thời kỳ Mậu Tuất, đã xuất hiện một trào lưu giải phóng tư tưởng lớn lần thứ nhất trong lịch sử của nước Trung Quốc.
Nó làm cho một nước Trung Quốc già nua bắt đầu nảy ra một sự thay đổi lớn chưa từng có, từ các mặt tư tưởng, quan niệm, phong cách của xã hội cho đến toàn bộ kết cấu tư tưởng, văn hóa, cho nên nó là một cột mốc mang tính chất thời đại đối với lịch sử tư tưởng của Trung Quốc: Nó làm cho ngày càng đông đảo người dân Trung Quốc nhận thức được nguy cơ của dân tộc đang hết sức nghiêm trọng, việc cứu nguy cho đât nước, mưu câu sinh tôn cho dân tộc, cũng như việc tự 11 cường và bảo tôn giống nòi đang là nhiệm vụ cấp thiết không cho phép bất cứ người Trung Quốc nào được chan cht. Những người dân Trung Quốc, đặc biệt là những phần tử trí thức nhận thức được rằng: muốn cứu nước là phải đi theo con đường duy tân cải cách. Theo đó, Tây học ngày càng truyền bá rộng rãi hơn ở Trung Quốc, các học đường, học hội, báo quán mọc lên khắp nơi trên toàn quốc, dẫn đến xuất hiện tình hình "nha nhà nói chuyện thời sự, người người nói chuyện Tây hoc". Những học thuyết xã hội chính trị của tư sản Phương Tây được du nhập nhiều vào Trung Quốc thông qua phong trào này.
Những khâu hiệu như "Tự do, bình đăng, bác ái" đã xuất hiện trên mảnh đất rộng lớn của nước Trung Quốc. Tư tưởng dân quyên, thuyết tiễn hóa. là những lý luận mới mẻ cũng được phổ biến rộng rãi trong giới tư tưởng Trung Quốc. Cùng với sự du nhập những tư tưởng, lý luận tư tưởng của văn hóa phương Tây thì văn hóa phong kiến của Trung Quốc bắt đầu bị lung lay bởi những trào lưu tư tưởng mới.
Những quan niệm trước kia xem là thần thánh, không cho phép nghi ngờ thì nay bắt đầu có người hoài nghi, phủ định, thậm chí vứt bỏ, điều này thể hiện qua những sáng tác của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục,. Từ thập niên bốn mươi của thế kỷ XIX, Lâm Tắc Từ, Ngụy Nguyên đều là những nhân vật tiên tiến, "dám mở to đôi mắt để nhìn ra thế giới", nhưng hành động của họ mới chỉ thé hiện một thái độ văn hóa cởi mở, mà vẫn chưa thực sự tiếp thu thực chất và nội dung của tư tưởng phương Tây, nguyên nhân là do lúc bấy giờ họ đang nôn nóng với mục đích "chế ngự người Di", và "có công dụng ngay đối với việc kinh bang tế thế", đó là cách làm theo hướng thực dụng và hơn nữa cũng do họ vẫn cơ bản giữ lập trường của văn hóa phong kiến Trung Quốc. Hay sau này, Hồng Tú Toàn trong Thái Bình Thiên Quốc đã thông qua đạo Cơ Đốc của người phương Tây để phục vụ nông dân cách mạng thời bay gio. 12 Sự nhận thức của một phái người này đã bước đầu tiến lên một nắc thang mới, tức họ đã bắt đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây một cách tương đối có thực chất hơn, Song đối với những van dé mau chốt của văn hóa phương Tây họ vẫn có thái độ bảo lưu hoặc những ảnh hưởng của chúng cơ bản chỉ được giới hạn ở những vùng Hồng Kông, Áo Môn, Thượng Hải.
Và quan trọng hơn, những ảnh hưởng đó chỉ có những tác dụng riêng lẻ mà không phải là một chuyên động về mặt trào lưu tư tưởng trong xã hội, cho nên xét cho cùng đó cũng mới chỉ là “dòng thác ngầm đang âm thầm chuyền động, đang tích tụ lực lượng, đang chờ đợi thời cơ, nhưng lại không tìm được phát khẩu đề phun trào”". Và cho đến những thập niên chín mươi của thế kỷ XIX, thì đột phát khẩu đó cuối cùng cũng xuất hiện. Qua chiến tranh Giáp Ngọ, chính phủ của vương triều nhà Thanh bị thất bại thảm hại, nguy cơ chính trị vô cùng khắc nghiệt, buộc tất cả những người Trung Quốc tỉnh táo không thê không đi đến kết luận: Muốn cứu Trung Quốc thì chỉ có duy tân, muốn có duy tân thì phải có học với người ngoại quốc. Ngoài ra, kết quả lâu dài của việc “Tay học tiến dần về phía Đông” cũng đã tạo nên những phan tử tri thức mới, họ trở thành những người sáng tạo và tuyên truyền tích cực cho việc cải cách duy tân cũng như cho dư luận trong xã hội, từ đó tạo điều kiện cho “dòng thác ngầm” trở thành một “dòng thác lũ mạnh mẽ”.
Trong điều kiện đó, Nghiêm Phục đã dịch Thiên diễn luận.2 Sơ lược về nội dung tác phẩm Thiên diễn luận là tác phẩm do Nghiêm Phục phiên dich từ quyền Tiến hóa luận và luân lí học của nhà bác học người Anh T. Cuốn sách này nam trong bài giảng về “Romanes” của Huxley tại trường Đại học Oxford năm 1893. ! Chuyển dẫn theo Cát Kiếm Hùng, Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005, Tr.633 13 Tư tưởng chủ đạo của cuốn sách này là tiếp tục tuyên truyền chủ nghĩa Darwin xã hội, mà khởi nguồn của nó chính là từ Học thuyết Tiến hóa sinh vật của Darwin. Ông tô của tư tưởng này là nhà xã hội học của giai cấp tư sản nước Anh nồi tiếng Spencer.
Học thuyết Tiến hóa sinh vat của Dar win (còn gọi là chủ nghĩa Darwin) là một học thuyết với những quy luật thông thường được mọi người tông kết thành mấy câu: “Cạnh tranh sinh ton, tot thắng xấu bại, kẻ thích nghỉ thì ton tại, kẻ không thích nghỉ thì bị đào thái”. Luận điểm cơ bản của Thiên diễn luận là: Sinh vật là tiến hóa , không phải là bat biến , trên thé giới sở di có hiện tượng này là vì - “cạnh tranh giữa các sinh vật với nhau” và “trời chọn ” (ý nói sự lựa chọn tự nhiên). “Cạnh tranh giữa các sinh vật là cạnh tranh sinh tôn”, “trời chọn” là chọn lọc tự nhiên cũng chính là “đào thải tự nhiên ”. Ông cho răng quy luật tự nhiên của sự phát triển sinh vật này vừa dùng dé giải thích tat cả mọi hiện tượng tự nhiên , đồng thời có thé dùng dé giải thích các hiện tượng xã hội.
Thiên diễn luận (Bản dịch năm 1981, do nhà xuất bản Thương Vụ Ấn thư quán xuất bản), được chia làm 2 quyên: Quyền thượng, quyên hạ Quyền thượng gồm 18 thiên, được đặt tên là “Vat cạnh thiên trạch”, bàn về van đề tiến hóa, trong đó đề cao “vật cạnh thiên trạch, thích giả sinh ton”, loài tối ưu là loài được bảo đưỡng và phát triển. Những loài vật đang tồn tại đều là những loài còn lại sau cuộc đấu tranh sinh tồn hàng vạn năm trong tự nhiên. Trong đó đặc biệt dé cao van dé con người. SH: B® Sát biên : giới thiệu sơ lược về sự biên đôi thông thường của giới tự nhiên, dụng ý giải thích sự lựa chọn tự nhiên và cạnh tranh sinh tồn của sinh vật.
E‡?ï—: JS Quảng nghĩa: chỉ rõ ý nghĩa quan trong của sự tiễn hóa, đồng thời thuyết minh về sự tiến hóa là bản nguyên của sự sinh tồn phát triển vạn vật.