CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Trong nhiều thập kỉ qua, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã mong muốn biến phát triển bền vững trở thành nguyên tắc định hướng tổng quát nhằm đảm bảo một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người.
Khái niệm cơ bản về Phát triển bền vững đã được đề cập đến trong Báo cáo Brundtland (1987) đó là “Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [27]. Trong Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển (1992) đã thông qua các Formatted: Font: 13 pt văn kiện quốc tế quan trọng có mối liên quan với nhau và được quán triệt trong suốt thế kỷ XXI trên phạm vi toàn cầu như: 27 nguyên tắc chung, xác định những quyền và trách nhiệm của các quốc gia nhằm làm cho thế giới Phát triển bền vững, chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững với 8 nội dung (xóa đói, giảm nghèo; phổ cập giáo dục tiểu học; thúc đẩy bình đẳng giới tính, đồng thời nâng cao quyền lợi của nữ giới; giảm tỉ lệ trẻ em tử vong; cải thiện và đảm bảo sức khỏe sản phụ; đấu tranh với các loại bệnh như HIV, sốt xuất huyết; bảo vệ môi trường; thúc đẩy phát triển hợp tác toàn cầu) đã được tập trung thực hiện, Công ước về Đa dạng Sinh học, Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu,…[29]. Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Mười năm sau Rio-1992, Tuyên bố Johannesburg về Phát triển bền vững và Chương trình hành động “Kế hoạch thực hiện Tuyên bố Johannesburg” được tổ chức tại Johannesburg, Nam Phi (2002) đã khẳng định lại và nhấn mạnh giá trị của Chương trình Nghị sự 21 tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên đặc biệt là vấn đề môi trường. Tháng 9 năm 2015, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Chương trình Nghị sự 2030 vì sự Phát triển bền vững [12] với trọng tâm Formatted: Font: 13 pt là 17 Mục tiêu Phát triển bền vững (viết tắt tiếng anh là SDGs) nhằm đảm bảo cuộc sống bền vững, hòa bình, thịnh vượng và công bằng cho tất cả mọi người trong hiện tại và tương lai.
Một điểm quan trọng của Chương trình Nghị sự 2030 vì sự Phát triển bền vững là tính toàn cầu và không có sự phân biệt. Chương trình hướng đến mọi quốc gia – từ nước phát triển nhất đên nước kém phát triển nhất. Các quốc gia 8 z đăng kí thực hiện sẽ điều chỉnh các nỗ lực phát triển của quốc gia để thúc đẩy thịnh vượng, bảo vệ Trái Đất nhằm đạt được sự Phát triển bền vững. Giáo dục môi trường được đề cập đến trong giáo dục toàn cầu từ hội nghị Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt thượng đỉnh quốc tế được UNESCO tổ chức tại Stockholm năm 1972, Belgrade 1975, Matxcova 1990 và đặc biệt là hai hội nghị lớn ở Rio de Janeiro 1992.
Việc đẩy mạnh cam kết giáo dục bảo vệ môi trường trong các hệ thống giáo dục giáo dục Formatted: Font: 13 pt là sự cam kết giữa các chính phủ thông qua Agenda 21 và hội nghị của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc họp ở New York năm 2002 thống nhất đưa giáo dục bảo vệ môi trường sang một trang mới là giáo dục phát triển bền vững theo chương trình hành động Thiên nhiên kỷ của Liên Hợp Quốc. Hội nghị này đã thống nhất thực hiện Thập kỷ giáo dục phát triển bền vững giai đoạn 2005-2014 lấy giáo dục bảo vệ môi trường làm nòng cốt [32]. Formatted: Font: 13 pt Hội nghị thượng đỉnh ở Tbilissi năm 1997 đã đặt ra mục tiêu cho giáo dục bảo vệ môi trường là làm cho người học hiểu được sự đa dạng của môi trường như tự nhiên, con người, sự tương tác giữa các mặt sinh thái, vật chất, xã hội, kinh tế và văn hóa, đồng thời với việc đảm bảo cho học sinh chiếm lĩnh được các kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi năng lực, hành động cần thiết để tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả vào việc phòng ngừa và đưa ra các giải pháp cho các vấn đề về môi trường, quản lí hiệu quả chất lượng môi trường [36]. UNESCO đưa ra Formatted: Font: 13 pt nhiệm vụ cho các hệ thống giáo dục các nước thành viên về giáo dục bảo vệ môi trường là tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào trong tất cả các hình thức giáo dục đảm bảo cho mọi người và các tổ chức chiếm lĩnh được kiến thức, hình thành thái độ và nắm bắt được các ý nghĩa về giá trị cần tham gia và tìm kiếm các giải Formatted: Font: 13 pt pháp cho môi trường [36].
Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được đề xuất tích Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt hợp trong hệ thống giáo dục là các khía cạnh về sinh thái, xã hội, văn hóa khớp nối với các chủ đề khác để cho phép các cá nhân nhận thức được những mối liên hệ phức hợp của môi trường. Thập kỷ Liên Hợp Quốc về Giáo dục vì sự Phát triển bền vững (Decade of Education for Sustainable Development – DESD) (2005-2014) hướng đến việc tích hợp các nguyên lí và thực hành về Phát triển bền vững vào hệ thống giáo dục ở tất 9 z cả các cấp; muốn phá bỏ lối giáo dục truyền thống như: học theo môn học và ủng hộ lối học kết hợp liên ngành; học theo giá trị; học có tư duy chứ không học thuộc lòng; tiếp cận đa phương pháp, đa hình thức: thơ, kịch, vẽ, tranh luận…; tham gia vào việc ra quyết định [31]. Việc đi theo con đường phát triển bền vững yêu cầu Formatted: Font: 13 pt một sự chuyển đổi mạnh mẽ trong cách chúng ta tư duy và hành động. Để tạo ra một thế giới bền vững hơn và tham gia vào các vấn đề liên quan đến bền vững, mỗi cá nhân phải trở thành những người tạo ra các thay đổi bền vững.
Chúng ta cần kiến thức, kĩ năng, giá trị và thái độ để có thể đóng góp vào sư phát triển bền vững. Vì vậy giáo dục có vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Rất nhiều chính sách của chính phủ các nước phát triển và đang phát triển kêu goi thực hiện lồng ghép các nội dung của giáo dục phát triển bền vững và/hoặc khái Formatted: Font: 13 pt niệm giáo dục liên quan như giáo dục vì sự phát triển, giáo dục về quyền con người, giáo dục vì hòa bình, gió dục công dân toàn cầu giáo dục bảo vệ môi trường ở hình thức học tập chính quy. Giáo dục phát triển bền vững đã ngày càng có vị trí quan Formatted: Font: 13 pt trọng và là một phần không thể thiếu trong ngôn ngữ chính sách toàn cầu cũng như trong chính sách của các quốc gia về giải quyết các vấn đè phát triển bền vững [33].
Formatted: Font: 13 pt Costa Ricca đã thành công khi lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào chính sách phát triển bền vững đó là Chính sách phát thải Carbon trung Formatted: Font: 13 pt tính 2021 sau khi đã thông qua Cam kết Quốc gia về Thập kỉ Giáo dục vì sự phát triển bền vững vào năm 2016 và hướng tới mục tiêu là nước đầu tiên đạt được lượng phát thải Carbon trung tính. Điều này cho thấy giáo dục bảo vệ môi trường có Formatted: Font: 13 pt thể củng cố và dẫn dắt trong các hệ thống giáo dục. Hay Chiến lược thực hiện giáo dục phát triển bền vững của Kenya được Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt thông qua năm 2008 công nhận rằng để có một nền giáo dục đào tạo phục vị phát triển ngành giáo dục cần phải tăng cường đào tạo công dân làm việc hiệu quả và có trách nhiêm xã hội. Chiến lược này nhằm mục tiêu thúc đẩy việc dạy và học, khắc Formatted: Font: 13 pt ghi các giá trị, hành vi, lối sống tích cực để quản trị tốt và phát triển bền vững các mục tiêu trọng tâm khác.
Kenya cũng xây dựng Khung chính sách giáo dục phát triển bền vững quốc gia năm 2012 và lồng ghép vào Chương trình Giáo dục quốc Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt 10 z gia 5 năm (2013-2018) và được đề cập trong tầm nhìn 2030 cho thấy tầm quan trọng của sự tương hợp với các mục tiêu phát triển bền vững quốc gia. Còn ở Phần Lan đang cải cách chương trình học cốt lõi quốc gia cho bậc Formatted: Font: 13 pt giáo dục mầm non và giáo dục cơ bản để hỗ trợ và thúc đẩy phát triển bền vững, cuộc sống hạnh phúc trên cơ sở giá trị của giáo dục, nơi mà sự cần thiết của cách sống bền vững và sự hiểu biết xã hội sinh thái được chú trọng. Mục tiêu của Phần Lan là hỗ trợ tất cả các học sinh phát triển kiến thức, kĩ năng, giá trị và thái độ để Formatted: Font: 13 pt nâng cao hiểu biết về tầm quan trọng của một tương lai bền vững. Để thực hiện Formatted: Font: 13 pt được mục tiêu, hầu hết các quốc gia trên đều lồng ghép giáo dục phát triển bền Formatted: Font: 13 pt vững vào trong Chương trình Giáo dục quốc gia giúp xây dựng các kết quả học tập về nhận thức, xã hội-cảm xúc và hành vi cũng như các năng lực bền vững chủ chốt để đạt được mục tiêu phát triển bền vững [35].
Formatted: Font: 13 pt 1. Trong nước Giáo dục bảo vệ môi trường ở nước ta cũng đã được triển khai từ rất sớm, kịp thời và đồng bộ với các đề xuất của UNESCO và cập nhật với xu hướng thế giới. Ngay từ những năm 90, Nhà nước đã quan tâm đến giáo dục bảo vệ môi trường và phát triển bền vững thể hiện qua “Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000” và cũng đã xây dựng một chương trình hành động riêng – Quyết định số 153 của Chính phủ [19]. Formatted: Font: 13 pt Đặc biệt trong triển khai giáo dục bảo vệ môi trường ở Việt Nam có sự đồng bộ thực hiện xuyên suốt của chỉ thị số 36 của Bộ chính trị, Luật giáo dục về bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua năm 1993.
Nội dung Đề án là sự thể hiện chiến lược giáo dục bảo vệ môi trường toàn diện chính thức trong hệ thống giáo dục Việt Nam.