CHƯƠNG 1: “CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Các khái niệm liên quan đến động lực làm việc 1. Khái niệm về động lực Có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau liên quan đến động lực làm việc trong và ngoài nước được đưa ra. Bài viết xét dưới góc độ động lực trong công việc, động lực lao động của cá nhân trong một tổ chức, doanh nghiệp.
Tuy nhiên, các định nghĩa này đều có điểm chung là sự bao gồm các từ ngữ như khao khát (desire), mong muốn (want), ước mong (wishes), mục tiêu (goals), nhu cầu (needs), và những ưu đãi hay khuyến khích (incentives). - Động lực là lực đẩy từ bên trong để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn (Higgins, 1994, trang 2); hoặc Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định (Kreitner, 1995, trang 2); - Stoken (1999, trang 3) cho rằng động lực là đặc điểm tâm lý của con người đóng góp vào mức độ cam kết của một người. Nó bao gồm các yếu tố gây ra, truyền tải, và duy trì hành vi con người theo một hướng cam kết cụ thể. - Động lực có thể được mô tả như những nhu cầu hay sự dẫn dắt làm thôi thúc một ai đó làm một hành động hay một hành vi nào đó.
Có nghĩa là cung cấp một lí do cho việc hành động. Nó có thể bắt nguồn từ nhu cầu cá nhân, sự ham muốn hay một sự dẫn dắt.Từ những định nghĩa trên có thể thấy rằng động lực là nhân tố định hướng, dẫn dắt mục tiêu và khuyến khích người lao động đạt được mục tiêu của chính mình. Khái niệm về động lực làm việc Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về động lực làm việc, tiêu biểu như sau: - Theo Koonntz và cộng sự, 2004, “Động lực làm việc là những yếu tố thúc đẩy con người thực hiện công việc. Động lực là những phương tiện mà nhờ chúng các nhu cầu mâu thuẫn nhau có thể được điều hòa hoặc một nhu cầu được đề cao hơn để sao cho chúng được ưu tiên hơn các nhu cầu khác”.” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - “Quan điểm của Herzberg (1959) trong tác phẩm “The motivation to work” cho rằng “động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực để đạt được mục tiêu hay một kết quả cụ thể”.
- Theo Maier và Lawler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng * Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh * Đào tạo * Các nguồn lực Động lực = Khao khát * Tự nguyện. Mô hình này cho ta thấy động lực là những nhân tố mang lại kết quả thực hiện công việc. Có thể thấy khả năng của người lao động có được từ việc đào tạo, học hỏi kinh nghiệm hay kiến thức từ môi trường bên ngoài tùy thuộc vào khả năng tiếp thu nhanh hay chậm của từng người. Việc này có thể rèn luyện và học hỏi theo thời gian.
Tuy nhiên động lực là phải xuất phát từ ý chí tự nguyện và khát khao thực hiện công việc của chính bản thân của người lao động. Một khi người lãnh đạo hiểu được bản chất và xây dựng được các nhân tố nâng cao động lực thì chắc chắn hiệu quả công việc sẽ tăng cao, mục tiêu công ty từ đó mà được hoàn thành. Trong khi đó, một số khái niệm có liên quan về động lực làm việc được thể hiện như sau: - “Động lực thúc đẩy và sự thỏa mãn là khác nhau. Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được mong muốn hoặc mục tiêu nhất định, còn sự thỏa mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng.
Như vậy, động cơ thúc đẩy ngụ ý xu thế tới một kết quả, còn sự thỏa mãn là một kết quả được thực hiện” (Trần Thị Kim Dung & Nguyễn Ngọc Lan Vy, 2011) - Động lực hay động cơ là “sức mạnh để tác động lên một người hoặc sức mạnh nảy sinh trong lòng anh ta, thúc đẩy người ta thực hiện hướng tới mục tiêu xác định. Một nhân viên có động cơ làm việc cao là người năng động, chịu đầu tư sức lực và tinh thần để hoàn thành công việc của mình và đạt được chỉ tiêu đề ra” (Huỳnh Thanh Tú, 2013, trang 107).” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 “Có thể mô tả tóm tắt định nghĩa về động lực làm việc của các nhà nghiên cứu trước đây theo bảng sau: Bảng 1.1: Bảng tóm tắt về động lực làm việc của các nhà nghiên cứu Tác giả Định nghĩa “ Động lực làm việc” Koonntz và cộng sự, Là những yếu tố thúc đẩy con người thực hiện công việc 2004. Herzberg (1959) Là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực để đạt được mục tiêu hay một kết quả cụ thể Maier và Lawler Kết quả thực hiện công việc = Khả năng * Động lực (1973) Trần Thị Kim Dung & Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt Nguyễn Ngọc Lan được mong muốn hoặc mục tiêu nhất định Vy, 2011 Huỳnh Thanh Tú, Là sức mạnh để tác động lên một người hoặc sức mạnh nảy 2013 sinh trong lòng anh ta, thúc đẩy người ta thực hiện hướng tới mục tiêu xác định. (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu) Nhìn chung động lực làm việc ở mỗi nhân viên hay cấp quản lý ở mỗi tổ chức hay doanh nghiệp là hoàn toàn khác nhau vào mỗi thời điểm, hoàn cảnh cụ thể và có những nhân tố hay mức độ tác động khác nhau.
Tuy nhiên, động lực làm việc xuất phát từ bên trong nội tại của chính bản thân người lao động với một số mục tiêu hay lí do cụ thể nào đó của chính bản thân họ. Vì tất cả những nguyên nhân đó, bản thân các nhà lãnh đạo đòi hỏi phải thấu hiểu và đáp ứng đúng những nhu cầu và mong muốn thực sự từ bên trong của người lao động để họ cảm thấy được thấu hiểu để chủ động làm việc và cống hiến hết mình cho tổ chức. Ta cần phân biệt 2 khái niệm: động lực và sự thỏa mãn. Động lực là sự thôi thúc, khuyến khích và cố gắng để đạt được điều mong muốn.
Còn sự thỏa mãn là sự hài lòng, toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng.” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. “Nhân viên kinh doanh và đặc thù công việc của nhân viên kinh doanh Nhân viên kinh doanh là các cá nhân bán hàng hóa và dịch vụ cho các đơn vị khác. Sự thành công của một nhân viên bán hàng thường được đo lường bằng số lượng bán hàng mà người đó có thể bán được trong một thời gian nhất định và mức độ đàm phán, thuyết phục của cá nhân đó để thực hiện việc bán hàng của khách hàng Nhân viên bán hàng là chiếc cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp. Người bán hàng giỏi phải là người đảm bảo lợi ích công bằng giữa doanh nghiệp và khách hàng.
Phải hoàn thành các chỉ tiêu về doanh số theo mục tiêu tổ chức nói chung và yêu cầu của phòng ban đó nói riêng. Ngoài ra còn phải đàm phán, thuyết phục khách hàng, tư vấn và hướng dẫn họ sử dụng nhằm đem lại sự phục vụ và lợi ích tốt nhất cho khách hàng. Đặc thù của nhân viên kinh doanh: Nhân viên kinh doanh là không những là người chịu nhiều áp lực từ mục tiêu doanh số của công ty, mà còn chịu áp lực lớn từ phía khách hàng. Họ phải thường xuyên đối mặt với áp lực khối lượng công việc nhiều, chỉ tiêu KPI cao, các thách thức về chuyên môn trong lĩnh vực họ công tác: - Tìm kiếm đối tác, thiết lập và mở rộng mối quan hệ với khách hàng, đàm phán ký kết hợp đồng, thực hiện các chiến lược phát triển kinh doanh, marketing của ban lãnh đạo, phản hồi từ phía khách hàng.
- Lập kế hoạch, triển khai bán hàng, đốc thúc các bộ phận thực hiện theo đúng kế hoạch đã cam kết. - Tư vấn, hướng dẫn cho khách hành cách sử dụng, thông báo đến khách hàng các chính sách bảo hành và hậu mãi, hay các chương trình khuyến mãi (nếu có) của công ty. - Phát triển và duy trì mối quan hệ bền vững với khách hàng, tích cực tìm kiếm và mở rộng thêm những mối quan hệ mới và những khách hàng mới.” - “Thu nhập của nhân viên kinh doanh không cố định, phụ thuộc vào mục tiêu và kế hoạch được đặt ra ở mỗi công ty. Đây là áp lực cho nhân viên kinh doanh khi họ không hoàn thành chỉ tiêu thì chỉ có lương cơ bản mà hoàn toàn không có thưởng theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 doanh số, thậm chí là không có phụ cấp.
Tuy nhiên đây cũng chính là động lực to lớn giúp họ cố gắng phấn đấu để đạt được doanh số đặt ra ở mỗi tháng hay mỗi quý. - Sự thăng tiến trong công việc của nhân viên kinh doanh thường nhanh hơn các bộ phận phòng ban khác. Một khi họ hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu doanh số của phòng ban hoặc công ty đề ra theo kế hoạch là minh chứng cụ thể nhất cho việc xét tăng lương hay cấp bậc vì nó thể hiện rõ ràng qua những con số trong từng chỉ tiêu minh bạch, rõ ràng và cụ thể. Hay nói cách khác, là điều kiện cần thiết để nhân viên kinh doanh phấn đấu hết sức mình.
Vai trò của việc nâng cao động lực cho nhân viên 1. Đối với người lao động Động lực có vai trò tăng năng suất lao động kể cả trong điều kiện các yếu tố đầu vào không thay đổi. Động lực là một sức mạnh vô hình khiến nhân viên cảm thấy hăng say làm việc, không ngừng sáng tạo để đạt được mục tiêu. Nhân viên có động lực sẽ làm việc đạt 80 - 90% hiệu suất, tỷ lệ nghỉ việc và nghỉ phép thấp (Arman, 2009).
Để nhân viên vui vẻ, hứng thú, sáng tạo và cống hiến hết mình cho công việc thì cần có biện pháp nâng cao động lực hiệu quả. Như vậy, việc nâng cao động lực cho nhân viên có vai trò rất quan trọng. Đối với nhân viên, nâng cao động lực giúp nhân viên nhận biết được ý nghĩa và kết quả tốt đẹp khi họ hoàn thành công việc một cách xuất sắc. Từ đó họ sẽ có suy nghĩ và thái độ tích cực với công việc của mình, hăng hái lao động, luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành mục tiêu.